mở đầu tiến trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam. Các nhà tiểu thuyết hiện thực với những tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng tiếp tục duy trì sức sáng tạo và đẩy thể loại tiểu thuyết phát triển đến đỉnh cao với nhiều tác phẩm hiện thực xuất sắc. Trải qua hai cuộc kháng chiến: chống Pháp và chống Mỹ, đội ngũ các nhà tiểu thuyết Việt Nam càng trở nên đông đảo với sự đóng góp của Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Phan Tứ, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu. Đến thời kì đổi mới, nổi bật lên một số tên tuổi như Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Chu Lai.
cùng sự hiện diện của nhiều thế hệ nhà văn với những tài năng, phong cách và bản lĩnh nghệ thuật mới đã làm thay đổi diện mạo và góp phần khẳng định vai trò chủ lực của tiểu thuyết trong nền văn học hiện đại. Tiểu thuyết là một thể loại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự, tính chất văn xuôi, vì vậy trở thành đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của tiểu thuyết. Các tác giả luôn có những hư cấu trong tiểu thuyết, nhưng những hư cấu nghệ thuật ấy lại tìm thấy ở cuộc đời - những chất liệu để xây dựng tác phẩm, xây dựng nhân vật. Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống hiện tại không ngừng biến đổi, dựa trên cơ sở kinh nghiệm của cá nhân.
Trong cuộc hội thảo Đất nước, con người, văn hóa Hà Lan do Trung tâm nghiên cứu văn hóa quốc tế (RICC) tổ chức tại Hà Nội năm 1997, Giáo sư tiến sĩ Hugo Bousset của trường Đại học Louvain gửi một bản tham luận với cái tên gây tò mò: Tiểu thuyết là một củ hành: Tiểu thuyết hiện đại của Hà lan và vùng Flandres. Ông cho rằng, nhà viết tiểu thuyết phải bóc hết lớp vỏ này đến lớp vở khác cho đến khi ta thấy cái lõi của củ hành, ăn vào mắt cay sè, lúc đó ta mới khám phá ra sự thật - chân lý của cuộc sống [8, tr. Điều đó tạo cho tiểu thuyết có thể phơi bày tận cùng sự phức tạp của cuộc sống: cả xấu, cả tốt, cả bi, cả hài, cả lớn lao và nhỏ bé…. Chất văn xuôi được thể hiện rõ trong các c 19 tác phẩm của Balzac, Tolstoi, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Khải… Nhân vật tiểu thuyết vừa là sản phẩm lại vừa là chủ thể tác động đến cuộc sống.
Trong cuộc đời không hiếm những con người lấy nhân vật tiểu thuyết làm khuôn mẫu, làm lẽ sống. Những nhân vật lý tưởng trong tiểu thuyết nhiều khi có sức ám ảnh rất lớn đối với con người ngoài cuộc đời. Nhưng không vì thế mà đồng nhất nhân vật tiểu thuyết với con người ngoài cuộc đời. Bởi vì nhân vật tiểu thuyết là nhân vật của hư cấu và tưởng tượng, là nhân vật có tính chất điển hình được xây dựng theo quan niệm nghệ thuật của nhà văn.
Đặc trưng của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực. Tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình. Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, không chỉ cho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn ở khả năng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận các nhân nhân vật. So với truyện ngắn và truyện vừa, tiểu thuyết có những cái thừa, nhưng thực ra lại là chính yếu của nhân vật về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các mối quan hệ, diễn biến tâm lí tình cảm, ngóc ngách tâm hồn… của các nhân vật.
Nhân vật tiểu thuyết phải có đời sống riêng, số phận riêng phù hợp với sự phát triển tính cách của nhân vật và logic của đời sống. Nhân vật ấy được miêu tả từ nhiều góc độ, nhiều mặt, sống động như một người thật. Đặc biệt, phải là những người nếm trải qua nhiều khổ đau, sóng gió trong đời. Đó không chỉ là một người, mà còn là tập hợp của nhiều người, một gia tộc hoặc nhiều thế hệ.
Bởi vậy, Sống mòn của Nam Cao là tập hợp những suy nghĩ của Thứ về gia đình, bạn bè đồng nghiệp, về ước mơ, về miếng ăn, về công việc… Những câu chuyện về nhà ông Học, c 20 về Mô, về Oanh… không thiết thực cho một câu chuyện nào, có những chi tiết tưởng chừng như là vụn vặt, thừa thãi nhưng thực ra nó lại phơi bày ra cả một thực tại sống mòn của con người như một quá trình. Ngay bản thân tác giả cũng có thể tự khai thác mình như một nguyên mẫu và trong trường hợp ấy, độc giả sẽ tìm thấy sự trùng hợp của nhiều chi tiết về tiểu sử tác giả với số phận đời tư nhân vật. Đó là trường hợp của Nam Cao với Thứ (Sống mòn), Lê Lựu với Giang Minh Sài (Thời xa vắng), Nguyễn Khải với Việt (Gặp gỡ cuối năm), nhân vật Hắn - nhà văn (Thượng đế thì cười). Phân tích tâm lý là đặc trưng của tiểu thuyết: Phép biện chứng tâm hồn.
Tiểu thuyết thể hiện một cách tỉ mỉ cái chính yếu về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, dựng lại chi tiết không gian và thời gian, giới thiệu tường tận tiểu sử nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ giữa người và người, giữa người với thế giới xung quanh. Hoàn cảnh trong tiểu thuyết được khắc họa và phân tích chi tiết, không gian, thời gian cho các nhân vật hoạt động cũng chính là phương tiện bộc lộ ý nghĩa tác phẩm. Ngôn từ của tiểu thuyết không thi vị hóa, lãng mạn hóa như sử thi mà gồ ghề, trắc trở, đúng như những gì cuộc sống hiện tại đang diễn ra. Trong quá trình vận động và phát triển diện mạo của tiểu thuyết không ngừng thay đổi.
Tuy nhiên, trong tương quan với các thể loại khác, tiểu thuyết nổi bật lên ở khả năng phản ánh một cách toàn vẹn và sinh động bức tranh mang tính tổng thể của hiện thực đời sống, khả năng khắc họa chân dung nhân vật thông qua sự khám phá những vấn đề của số phận cá nhân và thân phận con người. Có thể khẳng định rằng, tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nhiều nhất đặc điểm của các thể loại văn học khác. Khát vọng làm mới tiểu thuyết đang ngày càng thu hút nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau. Họ đã rất mạnh dạn, tìm tòi thể nghiệm, sáng tạo nhiều kiểu dạng tiểu thuyết, góp phần làm thay đổi diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam.
Tiểu thuyết có yếu tố tự truyện Có thể thấy, xu hướng tự truyện không xa lạ với văn học phương Tây, nhất là tiểu thuyết Tây Âu thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX có nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất số ít (xưng tôi) có tham vọng ghi lại lịch sử tâm hồn con người từ cái nhìn bên trong. Chúng được coi là các tác phẩm tiểu thuyết tự thuật. Trong tiểu thuyết nói chung, cái tôi của tác giả đeo mặt nạ, không phải cái tôi mà là nhân vật của tôi. Còn trong tiểu thuyết tự truyện, cái tôi bộc bạch hết những điều thầm kín, thậm chí cả những tội lỗi, phơi trần mình ra trước ánh sáng.
Có nhà văn lãng mạn cho rằng, trình bày tư truyện ra trước công chúng (une autobiographie publique) chẳng khác gì đem tư duy ra làm điếm (une prostitution de la pensée) trên trang sách. Nhưng có nhà lý luận cho rằng, tiểu thuyết tự truyện cũng có tác dụng thanh lọc tâm hồn (catharsis) của bi kịch, ở đây nhà văn đem phần trong sáng nhất của tâm hồn ra giãi bày trước công chúng [8, tr. Các tác phẩm tự thuật trở thành lời tác giả thuật lại đời mình một cách tự nhiên và trung thực, mỗi bối cảnh của một giai đoạn trong cuộc đời là một chủ đề xếp thành tiểu thuyết, và tùy theo mỗi sự việc ấy mà tác giả bình luận hay lý luận để tỏ rõ tư tưởng, lập trường hay chí hướng của mình. Nói cách khác, cả về nội dung và hình thức nghệ thuật, những tác phẩm đó thể hiện rõ rệt chức năng của các tự truyện.
Trong văn học Việt Nam vốn ít có truyền thống tác giả tự kể chuyện đời mình, nhìn chung, cái tôi của nhà văn Việt khá kín đáo và không thích lộ diện. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tự truyện trở thành vấn đề được quan tâm, là một dòng chảy trong tiểu thuyết. Xuất hiện nhiều tiểu thuyết lấy chất liệu từ bản thân cuộc đời riêng tư của tác giả, những chi tiết mang tính tiểu sử của chính nhà văn, bộc lộ cái tôi cá nhân rõ nét: Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Chuyện kể năm 2000, (Bùi Ngọc Tấn), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Ba người khác (Tô Hoài) và hàng loạt các tiểu thuyết của Ma Văn Kháng từ Đám c 22 cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ cho đến tiểu thuyết mới đây Một mình một ngựa. Tuy nhiên, lưu ý không phải là tự truyện theo quy ước thể loại mà là những tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện.
Khuynh hướng tự truyện đề cập ở đây bao gồm cả những tiểu thuyết mà yếu tố tiểu sử có tính tham chiếu rõ ràng, chẳng hạn Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), hay ngược lại. Thực tế đó cho thấy có không ít nhà văn đã viết những tác phẩm trong đó người thật, việc thật lấn át vai trò của hư cấu. Với họ thì cuộc đời chính là vốn tư liệu sâu sắc, khiến tác phẩm trở nên hấp dẫn hơn. Tất nhiên không phải cứ đưa thẳng người thật, việc thật vào những trang viết thì tác phẩm sẽ thành công.
Bởi lẽ, đời sống hàng ngày dù đa dạng phong phú đến đâu cũng không thể cung cấp cho người viết tiểu thuyết một nhân vật (hay một cốt truyện) hoàn chỉnh. Do vậy, trong vô vàn những gương mặt đời thường, giữa muôn ngàn những biến cố của hiện thực, người viết tiểu thuyết đồng hóa và tái hiện bức tranh đời sống bằng phương thức chọn lọc, tổng hợp và sáng tạo. Tô Hoài cho rằng viết văn là một nghề mà học trò phải khác với ông thầy, phải viết được cái gì trên ông thầy.