Chương I CÔNG NGHỆ SDH I. Giới thiệu công nghệ SDH [1,2,3,4]. Lịch sử ra đời và phát triển của công nghệ SDH. Từ những năm đầu của thập kỷ 1980, khi nhu cầu truyền tải dịch vụ gia tăng, đồng thời một số công nghệ tiên tiến như công nghệ vi điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ truyền dẫn sợi quang…đã đạt được thành tựu nhất định, công nghệ SDH đã ra đời tạo ra một mạng giao tiếp quang trong đó những thiết bị truyền dẫn và các thông tin được tiêu chuẩn hóa có quy mô quốc tế có thể hoạt động với tất cả các hệ thống truyền dẫn khác nhau của các sản phẩm khác nhau.
Việc đưa SDH vào sử dụng đã tạo nên một cuộc cách mạng trong việc truyền dẫn các dịch vụ Viễn thông, đáp ứng được các yêu cầu đang tăng nhanh về kênh truyền dẫn linh hoạt, dung lượng lớn hơn và các yêu cầu kênh truyền dẫn băng rộng. Các mốc quan trọng trong sự phát triển của công nghệ SDH : Năm 1985 công ty Bellcore đã đề nghị một phân cấp truyền dẫn mới nhằm khắc phục các nhược điểm của hệ thống cận đồng bộ PDH được đặt tên là mạng quang đồng bộ SONET (Synchronous Optical Network). Dựa trên nguyên lý ghép kênh đồng bộ dùng các thiết bị quang làm môi trường truyền dẫn, SONET đưa ra các chỉ tiêu kỹ thuật của giao tiếp quang, định nghĩa một hệ phân cấp mới cho phép thâm nhập trực tiếp vào từng nhánh dữ liệu riêng lẻ trong từng luồng số tốc độ cao. Các tiêu chuẩn về giao tiếp tạo ra khả năng kết nối các loại thiết bị có những tiêu chuẩn khác nhau mà không gây trở ngại khi ứng dụng hệ thống phân cấp mới này vào mạng lưới hiện tại.
Trên cơ sở các tiêu chuẩn của SONET, công nghệ truyền tải đồng bộ quang đã dành được sự quan tâm, hình thành và phát triển ở Châu Âu và được gọi là công nghệ SDH. Năm 1988 các tiêu chuẩn của SDH như tốc độ bit, kích cỡ khung tín hiệu, cấu trúc bộ ghép, trình tự sắp xếp các luồng nhánh … đã được ITU-T ban hành. Năm 1990, theo quyết định của ETSI (Viện tiêu chuẩn viễn thông quốc tế) một thế hệ mới của loạt khuyến nghị G707, G708, G709 ra đời, đồng thời các khuyến nghị về thiết bị ghép kênh, giao tiếp quang, thiết bị vòng thuê bao, thiết bị quản lý mạng được phê duyệt. Các khuyến nghị về thiết bị nối chéo và cấu trúc mạng tiếp tục được nghiên cứu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -14- Bằng việc sử dụng chuyển mạch của các kết nối tín hiệu số và chuyển mạch bảo vệ đường dây, mạng SDH tận dụng tối đa khả năng truyền dẫn sẵn có, cho phép giám sát và điều hành mạng một cách hiệu quả cũng như cải tiến các phương án bảo dưỡng duy trì hệ thống. Cả hai yếu tố trên đều giúp cho việc giảm bớt các chi phí vận hành. Công nghệ SDH khắc phục được những nhược điểm cơ bản của công nghệ PDH trước đó, tạo ra sự linh hoạt và đa dạng trong các kết nối, thuận tiện trong việc khai thác, bảo dưỡng và quản lý mạng. Đặc biệt công nghệ SDH cho phép tạo nên cấu trúc mạch vòng đảm bảo độ tin cậy, an toàn mạng lưới mà công nghệ PDH trước đây không thể thực hiện được.
Công nghệ SDH với những ưu điểm vượt trội của mình đã được ứng dụng trong hầu khắp các mạng Viễn thông trên thế giới, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của công nghệ viễn thông. Các đặc điểm của công nghệ SDH [1,2]. Công nghệ SDH được xây dựng trên cơ sở hệ thống phân cấp đồng bộ số, ghép kênh theo thời gian TDM dùng chủ yếu cho việc tối ưu truyền tải lưu lượng thoại với phương tiện truyền dẫn dùng cáp sợi quang và vi ba số. Từ các hệ thống khác nhau, các luồng tín hiệu số sơ cấp có tốc độ bít khác nhau được ghép lại qua nhiều bước, mỗi bước lại được đưa vào các bit điều khiển, quản lý và phối hợp tốc độ.
Ở đầu ra hình thành một luồng đồng bộ cơ sở, các luồng đồng bộ cơ sở được nâng lên N lần thành các luồng đồng bộ cấp N. Giao diện SDH đã được tiêu chuẩn hóa toàn cầu, do vậy có thể kết hợp nhiều phần tử khác nhau trong cùng một mạng và tương tác với các mạng khác dễ dàng. Công nghệ SDH có tốc độ truyền dẫn cơ sở STM-1 là 155,520Mbit/s, các mức cao hơn STM-4 , STM-8, STM – 12 , STM – 16, STM – 64 …tốc độ truyền dẫn có thể đạt tới 10Gbit/s, do đó nó phù hợp với các mạng đường trục, mạng lõi. Việc truy nhập tới các kênh ghép vào được thực hiện thông qua con trỏ tạo thuận lợi cho việc phân nhánh, tách ghép kênh, đấu nối chéo, linh hoạt trong các kết nối.
Trong mạng SDH tất cả các phần tử mạng đều tham chiếu đến một đồng hồ chuẩn duy nhất. Các kênh điều hành mạng, các kênh số cho việc vận hành và bảo trì mạng được ghép vào bản thân tín hiệu SDH cho phép điều khiển mạng SDH bằng phương pháp tập trung. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -15- Mạng SDH hiện đại có nhiều cơ chế bảo vệ và dự phòng khác nhau, thời gian phục hồi nhỏ hơn 50ms với QoS được đảm bảo, lỗi một phần tử trong mạng không gây lỗi toàn bộ hệ thống. Công nghệ SDH tạo ra chuẩn quang, cho phép sử dụng thiết bị của nhiều nhà sản xuất trên cùng một hệ thống mạng truyền dẫn.
Tuy nhiên trên thực tế các nhà sản xuất trên thế giới chưa đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn do ITU-T đề ra nên trong quá trình vận hành, khai thác và bảo dưỡng còn gặp một số khó khăn về vấn đề kết nối và quản lý mạng. Cấu trúc bộ ghép SDH [1,2,3,4]. Một trong những thành công lớn nhất của công nghệ truyền dẫn phân cấp đồng bộ số SDH đó là việc xây dựng cấu trúc của bộ ghép đồng bộ. Hiện nay trên thế giới đang tồn tại ba hệ thống truyền dẫn cận đồng bộ PDH theo tiêu chuẩn Bắc Mỹ, Nhật bản và Châu Âu.
Các hệ thống cận đồng bộ theo tiêu chuẩn của Bắc Mỹ và Nhật Bản giống nhau là cùng dựa trên tốc độ luồng số cơ bản 1.544Mbit/s, chỉ khác nhau ở tốc độ bít cấp 3 và cấp 4. Hệ thống truyền dẫn cận đồng bộ theo tiêu chuẩn Châu Âu được thiết lập dựa trên luồng số cơ bản có tốc độ 2. Để truyền tải tín hiệu tương thích với cả ba hệ thống trên, ITU-T đưa ra cấu trúc ghép luồng số chung như hình vẽ 1. Ở Việt Nam hiện nay chỉ sử dụng hệ truyền dẫn số phân cấp theo tiêu chuẩn Châu Âu, vì vậy trong bản luận văn này chủ yếu trình bày về cấu trúc bộ ghép của SDH theo tiêu chuẩn Châu Âu.
xN x1 139264 STM-N AUG AU-4 VC-4 C-4 kbit/s x3 x1 x3 TU-3 TUG-3 VC-3 34368 kbit/s AU-3 VC-3 C-3 x7 44736 kbit/s x7 x1 6312 TUG-2 TU-2 VC-2 C-2 kbit/s x3 Xö lý con trá 2048 TU-12 VC-12 C-12 x4 kbit/s S¾p xÕp §ång chØnh 1544 TU-11 VC-11 C-11 GhÐp kªnh kbit/s Hình I.1 Sơ đồ bộ ghép SDH tiêu chuẩn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -16- Có hai phương pháp hình thành tín hiệu STM-N : - Phương pháp thứ nhất qua AU-4 được sử dụng ở Châu Âu và một số nước khác trong đó có Việt Nam. Tín hiệu AU-4 được hình thành từ một luồng nhánh C-4 139264 kbit/s, hoặc 3 luồng nhánh C-3 34368 kbit/s, hoặc 63 luồng nhánh C-12 2048 kbit/s thuộc phân cấp số PDH của Châu Âu. - Phương pháp thứ hai qua AU-3 được sử dụng tại Bắc Mỹ, Nhật và các nước khác. AU-3 được tạo thành từ một luồng nhánh 44736 kbit/s, hoặc từ 7 luồng nhánh 6312 kbit/s hoặc từ 84 luồng nhánh 1544 kbit/s.
Cũng có thể sử dụng 63 luồng 1544 kbit/s để thay thế cho 63 luồng 2048 kbit/s ghép thành tín hiệu STM-1 qua TU-12,…,AU-4.1 Các thành phần cơ bản của cấu trúc bộ ghép. Từ trên sơ đồ bộ ghép SDH trên ta có thể thấy các tín hiệu khách hàng được ghép luồng lần lượt theo các cấp độ khác nhau theo thứ tự tăng dần của kích thước tải tin. Các thành phần của bộ ghép bao gồm : 3. Container là đơn vị truyền dẫn nhỏ nhất trong khung truyền dẫn phân cấp đồng bộ số.
Đây là nơi các luồng thông tin đồng bộ hay cận đồng bộ, luồng tín hiệu dữ liệu khách hàng được bố trí vào từng loại container tương ứng với tốc độ của các luồng tín hiệu trước khi đươc đưa vào khung STM-1. Thuật ngữ Container dùng để chỉ dung lượng truyền đồng bộ mạng. Đơn vị kích thước của Container tính bằng byte, kích thước này được truyền trong mỗi 125 s. Tuỳ theo luồng đầu vào mà ta có các Container sau : Bảng I.1 Các loại Container Tên Container Tốc độ container Tốc độ luồng vào C-11 1600 kbps 1544 kbps C-12 2176 kbps 2048 kbps C-2 6784 kbps 6312 kbps C-3 48384 kbps 44736 kbps hoặc 34368 kbps C-4 149760 kbps 139264 kbps Số bit trong 125 s của luồng số luôn luôn nhỏ hơn kích thước của Container tương ứng của nó.
Để các luồng số đưa vào vừa vặn với các Container đòi hỏi phải chèn thêm từng bit hoặc từng byte vào ( chèn dương, chèn không hoặc chèn âm) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -17- Thông tin của Container bao gồm : + Dữ liệu của các luồng dữ liệu số được ghép vào. + Các bit hoặc các byte chèn cố định: Các bit, byte này không mang thông tin, được chèn thêm vào tín hiệu PDH để tương thích với tốc độ bit của các Container. + Các bit chèn đồng chỉnh khung thời gian. Các bit này có thể là bit chèn không mang thông tin, có thể là bit chèn mang thông tin luồng số.
+ Các bit điều khiển: được chèn vào để khai báo cho hướng thu biết bit chèn là bit thông tin hay chỉ là bit chèn không mang thông tin. Container ảo VC-n ( Virtual Container) : VC-n là một khối thông tin gồm phần tải trọng do các TUG hoặc C-n tương ứng cung cấp và phần mào đầu tuyến POH. VC-n = C-n + POH POH (Path Overhead) được sử dụng để xác định vị trí bắt đầu của VC-n, định tuyến, quản lý và giám sát luồng nhánh, đảm bảo các mức độ tin cậy vận chuyển Container từ nguồn đến đích. Tuỳ thuộc vào kích cỡ, một VC có thể được truyền vào STM-1(VC cấp cao) hoặc được chèn vào một VC lớn hơn để đưa vào khung STM-1(VC cấp thấp).
Các VC cấp thấp là VC-11, VC-12, VC-2; Các VC cấp cao là VC-3, VC-4.2 Đơn vị luồng nhánh TU-n (Tributary Unit).