MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công nghệ thông tin là một ngành khoa học đang phát triển rất mạnh và được áp dụng trong rất nhiều ngành khoa học khác, giúp cho con người xử lý công việc một cách nhanh hơn, chính xác hơn và hiệu quả hơn. Ngày nay, xu thế ứng dụng bản đồ số qua bản đồ số giúp nâng cao hiệu quả làm việc mà lại tiết kiệm rất nhiều trong công tác lưu trữ và chia sẻ. Tuy nhiên, việc thể hiện các đối tượng không gian trên bản đồ với số lượng lớn là vấn đề khó, vẫn đang dần được khắc phục.
Phương pháp chủ yếu được sử dụng hiện nay là khái quát hóa bản đồ thông qua các quy tắc nhất định. Luận văn này tập trung chủ yếu vào khái quát hóa dữ liệu dạng điểm nhằm nâng cao tốc độ hiển thị dữ liệu dạng điểm trên Web. Phân cụm dữ liệu là quá trình nhóm các đối tượng tương tự nhau trong tập dữ liệu vào các cụm sao cho các đối tượng cùng cụm là tương tự nhau còn các đối tượng khác cụm thì không tương tự nhau. Phân cụm chính là nhiệm vụ chính trong khai phá dữ liệu và là một kỹ thuật phổ biến để phân tích số liệu thông tin, các hệ trợ giúp quyết định, các thuật toán nhận dạng mẫu và phân lớp mẫu,…và đặc biệt là khai phá dữ liệu.
Ngày nay có rất nhiều các kỹ thuật phân cụm được sử dụng, nhưng không phải kỹ thuật phân cụm nào cũng có thể giải quyết tốt tất cả các vấn đề của quá trình phân cụm. Phân cụm là kỹ thuật được sử dụng rất hiệu quả và phổ biến trong khai phá dữ liệu và thông tin (Seo & Sheiderman, 2002), đồng thời nó được sử dụng để đơn giản hóa các cụm điểm (Lu và nnk, 2001). Cùng với sự phát triển của GIS, kỹ thuật này thể hiện nhiều điểm mạnh vượt trội, đáp ứng được các yêu cầu của khái quát hóa bản đồ số và đảm bảo được các đặc tính phân bố, cấu trúc của cụm dữ liệu. Tuy nhiên, phân cụm vẫn còn là khái niệm khá mới mẻ đối với các nhà bản đồ học và nhà nghiên cứu ở Việt Nam.
Vì những lý do trên, học viên quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao tốc độ hiển thị dữ liệu trên bản đồ trực tuyến”. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài + Đúc kết được những vấn đề lý thuyết căn bản của bản đồ trực tuyến hiện đại, những vấn đề về công nghệ liên quan và xây dựng quy trình công nghệ thành lập và phát hành bản đồ trên mạng. + Tìm hiểu về các thuật toán gộp điểm giúp nâng cao tốc độ hiển thị dữ liệu dạng điểm trên Web. + Sản phẩm thử nghiệm phải đạt chất lượng của bản đồ là nâng cao tốc độ hiển thị dữ liệu địa lý dạng điểm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 CHƢƠNG 1. Khái quát hóa bản đồ 1. Lịch sử phát triển và các khái niệm đang tồn tại Khái quát hóa bản đồ được các nhà địa lý và các nhà bản đồ học thảo luận và phân tích từ đầu thế kỷ 20. Các nhà bản đồ học đã gặp rất nhiều khó khăn trong nhiều thập kỷ trong việc khái quát hóa bản đồ và việc thể hiện bề mặt trái đất trên mặt phẳng bản đồ.Trải qua 1 thế kỷ, các định nghĩa, quan điểm mà các nhà địa lý và các nhà bản đồ học đưa ra rất đa dạng.
- Từ việc xem khái quát hóa bản đồ như là một quá trình chủ quan đến việc xem khái quát hóa bản đồ như là một phương pháp vẽ bản đồ khoa học khách quan: Năm 1921 Max Eckert lần đầu tiên đưa ra khái niệm khái quát hóa bản đồ, ông cho rằng thực chất khái quát hóa bản đồ nằm ở việc đối với các đối tượng vẽ bản đồ tiến hành chọn lọc và khái quát, nhân tố chủ yếu để dẫn dắt là công dụng của bản đồ, điều này đến nay vẫn hoàn toàn chính xác. - Erwin Raisz (Tổng quan về bản đồ học, 1948) đã trình bày một quan điểm khá đơn giản về khái quát hóa. Theo Raisz, không có quy tắc rõ ràng nào cho khái quát hóa bản đồ nhưng nó bao gồm các bước để kết hợp, loại bỏ một số yếu tố và lược giản hóa dữ liệu. - Từ thập kỉ 60 đến thập kỉ 80 của thế kỷ 20, nhiều học giả đã nghiên cứu về mô hình khái quát hóa bản đồ và mô hình bản đồ.
Khái niệm về mô hình bản đồ được đưa ra và sau đó trở thành những chỉ dẫn về lý thuyết cho sự chuyển đổi từ khái quát hóa bản đồ thủ công sang khái quát hóa bản đồ trên máy tính. Về mặt khái niệm, trong cuốn “Từ điển đa ngôn ngữ cho các thuật ngữ kỹ thuật trong Bản đồ học” do Hiệp hội bản đồ quốc tế (ICA) viết, khái quát hóa bản đồ được định nghĩa như sau: “Khái quát hóa bản đồ là việc lựa chọn và đơn giản hóa thể hiện những chi tiết bản đồ phù hợp với tỷ lệ hay mục đích sử dụng bản đồ”. Tuy nhiên, Brophy và David Michael (1973) lại cho rằng “Khái quát hóa là quá trình khuếch trương hóa mà không có bất kỳ quy định, hướng dẫn hay sự hệ thống hóa nào”. Keates, JS (1973), mặt khác, đã giải thích sản phẩm của quá trình khái quát hóa bằng việc mô tả nó như “những yếu tố ảnh hưởng đến cả vị trí và ý nghĩa của các yếu tố bản đồ, các tính năng về không gian giảm đi khi tỷ lệ bản đồ giảm, các thông tin vị trí, đặc tính được đưa lên bản đồ ít hơn”.F (1991) đã đưa ra định nghĩa khá quan trọng: “Khái quát hóa bản đồ là sự giản lược hóa các đặc tính không gian và hiển thị một cách đại diện các đối tượng này trên bản đồ”, Müller J.C (1991) lại cho rằng “khái quát hóa bản đồ là quá trình định hướng thông tin nhằm thể hiện nội dung của một cơ sở dữ liệu không gian cho phù hợp với nhu cầu của người sử dụng”.
Theo Jones CB, Ware JM LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 (1998), “Khái quát hóa bản đồ là quá trình xây dựng bản đồ tỷ lệ nhỏ từ bản đồ có tỷ lệ lớn. Nó bao gồm các bước như lược giản hóa, lựa chọn, di chuyển và hợp nhất để thành lập bản đồ khi tỷ lệ bản đồ giảm”. Định nghĩa, ý nghiã, mục đích và các nhân tố Bản đồ địa lý có vai trò là miêu tả từ một phạm vi nhỏ hẹp đến toàn bộ bề mặt trái đất. Đối tượng trong thực tế vô cùng đa dạng nên trên cùng một tờ bản đồ không thể hiện đầy đủ tất cả các đối tượng, hiện tượng được.
Vì vậy, phải có quá trình lựa chọn các đối tượng thể hiện. Quá trình lựa chọn, phân cấp này được gọi là quá trình khái quát hóa bản đồ. Định nghiã Quá trình khái quát hóa bản đồ là quá trình lựa chọn và phân cấp các đối tượng thể hiện sao cho phù hợp với nhiệm vụ ,chủ đề, tỷ lệ bản đồ, phù hợp với những đặc điểm khu vực thành lập bản đồ. Khái quát hóa bản đồ được hiểu đơn giản là việc xử lý thông tin khi người sử dụng phóng to, thu nhỏ bản đồ.
Tuy nhiên, cách hiểu này không mô tả được đúng ý nghĩa của khái quát hóa bản đồ. Việc thu nhỏ một bản đồ có tỷ lệ nhỏ có thể dẫn đến tình trạng quá tải của các đối tượng bản đồ, lúc này bề mặt bản đồ không đủ để thể hiện các đối tượng dữ liệu một cách tách biệt và dễ hiểu (hình 1. Sự khác biệt giữa khái quát hóa bản đồ và tỷ lệ hóa bản đồ (Bader M., 2001) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Mỗi tỷ lệ bản đồ được thành lập với mục đích khác nhau, có nghĩa là bản đồ ở tỷ lệ 1:25.000 sẽ bao gồm các thông tin và đối tượng khác với bản đồ tỷ lệ 1:50. Trong ví dụ đơn giản dưới đây (hình 1.2), ta có thể thấy rõ sự khác biệt.
Lưu ý rằng một số con phố trên bản đồ tỷ lệ 1:25.000 đã biến mất trên bản đồ 1:50.000 và chỉ những con phố chính được giữ lại. Có thể thấy là nếu tất cả các con phố trên bản đồ tỷ lệ lớn được giữ lại thì các đối tượng thể hiện trên bản đồ tỷ lệ nhỏ sẽ là quá nhiều khiến người sử dụng khó đọc và khó hiểu. Vẫn mảnh bản đồ này nhưng khái Một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25.000 quát hóa về tỷ lệ Bản đồ tỷ lệ 1:50.000 phóng to Hình 1. Khái quát hóa bản đồ (Batsos E.
Ý nghĩa, mục đích của khái quát hóa bản đồ Khái quát hóa là việc quan trọng nhằm tìm hiểu đặc trưng của hiện tượng chứ không trình bày tất cả ở các hiện tượng và cũng không đi nghiên cứu một hiện tượng riêng rẽ nào. Tuy rằng bản đồ là phương tiện để biểu hiện thực tế và truyền đạt thông tin nhưng không thể đưa lên bản đồ tất cả những gì có trong thực tế mà chỉ biểu diễn những đối tượng thông qua quá trình lựa chọn để đi đến giữ lại những gì phù hợp và loại bỏ những gì không cần thiết. Những yếu tố loại bỏ không có nghĩa là quá nhỏ bé mà vì nó không nêu được đặc trưng của hiện tượng. Trong nhiều trường hợp cần thiết phải cường điệu hóa đối tượng lên để thể hiện được đặc trưng của đối tượng nhỏ bé.
Như vậy, việc lựa chọn các đối tượng thể hiện trên bản đồ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người thành lập bản đồ mà phải căn cứ vào cơ sở khoa học nhất định để giữ lại những nét cơ bản điển hình và không xa rời thực tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục đích - Sửa đổi các dữ liệu định tính và định lượng mà vẫn miêu tả được đúng đặc trưng địa lý kinh tế xã hội của khu vực thành lập bản đồ. - Giảm số lượng các chi tiết không cần thiết.
- Lược giản hóa các đối tượng bản đồ. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình khái quát hóa bản đồ Tỷ lệ bản đồ: được định nghĩa là tỷ lệ giữa khoảng cách giữa hai điểm đo trên bản đồ với khoảng cách giữa hai điểm đó trên bề mặt trái đất. Tỷ lệ bản đồ có vai trò quyết định trong việc khái quát hóa bản đồ, xác định quy trình khái quát và các thuật toán được dùng để khái quát hóa. Mục đích sử dụng bản đồ: chức năng của bản đồ tác động trực tiếp đến nội dung và hình thức phản ánh nội dung bản đồ.