Chương 1: Những vấn đề pháp lý chung về xác lập và thực hiện quyền sở hữu tài sản trong công ty cổ phần Chương 2: Thực trạng pháp luật về xác lập và thực hiện quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện về quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CHUNG VỀ XÁC LẬP VÀ THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái niệm quyền sở hữu tài sản của công ty cổ phần.
Quyền sở hữu được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Công ty cổ phần là một pháp nhân, là một trong những chủ sở hữu tài sản được pháp luật ghi nhận. Chính bởi vậy, quyền sở hữu tài sản của công ty đối vốn là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của công ty. Điều 164 Bộ luật dân sự quy định: “ Quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” Định nghĩa trên cho thấy quan niệm về quyền sở hữu bằng cách liệt kê những nội dung của quyền sở hữu và chủ thể của quyền này. Qua đó, Bộ luật dân sự đã coi chiếm hữu là một quyền năng, là một trong ba bộ phận cấu thành quyền sở hữu. Liên quan đến vấn đề này, ở Việt Nam hiện nay đang còn nhiều tranh luận. Tựu trung lại có hai quan điểm phổ biến sau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền sở hữu chỉ bao gồm hai nội dung: quyền sử dụng và quyền định đoạt. Còn chiếm hữu thực ra là một tình trạng chứ không phải là một quyền năng. Chiếm hữu là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của quyền sở hữu. Đây cũng là quan điểm trong luật dân sự của đa số các nước trên thế giới như Đức, Pháp, Nhật Bản 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm thứ hai cho rằng cách quy định như Điều 164 Bộ luật dân sự hiện nay là hoàn toàn hợp lý.
Những người theo quan điểm này lý giải chiếm hữu là sự nắm giữ vật, tuy nhiên do sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà hiện nay có những vật không thể nắm giữ được (như năng lượng, sóng truyền hình). Vấn đề chiếm hữu đã có từ thời nguyên thuỷ, từ khi chưa có pháp luật thì loài người đã chiếm hữu những vật sẵn có trong thiên nhiên. Khi có pháp luật rồi thì mới phát sinh khái niệm quyền chiếm hữu. Muốn chứng minh mình là chủ sở hữu thì tuỳ từng trường hợp: đối với bất động sản phải dựa vào việc đăng ký tài sản, còn đối với động sản thì bản thân sự chiếm hữu cũng là một cách thức để chứng minh.
Không nên để „„tình trạng chiếm hữu‟‟ như là khi xã hội chưa có luật pháp. Tuy nhiên ở đây chúng ta không đi sâu quá vào vấn đề này. Ở đây chúng ta chỉ xem xét việc quy định quyền sở hữu cho công ty cổ với tư cách là một pháp nhân để nhằm mục đích gì. Như chúng ta đã biết công ty được lập ra để nhằm phát sinh lợi nhuận.
Để có thể đi vào hoạt động thì công ty đó phải có tài sản. Tài sản đó có thể là bất động sản hoặc động sản. Chính bởi vậy mà việc quy định quyền sở hữu cho công ty nhằm: thứ nhất, xác nhận khả năng sở hữu tài sản của công ty; thứ hai, xác định quyền hạn của công ty trong quyền sở hữu; thứ ba xác định những biện pháp bảo vệ quyền sở hữu của công ty trước những chủ thể khác. Theo như quy định của luật thì quyền sở hữu của công ty chỉ được hiểu với nội dung đồng nghĩa với quyền năng của chủ sở hữu.
Vấn đề hiện nay vẫn đang được tranh luận là liệu việc quyền sở hữu có bao gồm quyền chiếm hữu hay không? Trong luật La Mã, quyền sở hữu bao gồm: quyền sử dụng (Usus), có nghĩa thu được lợi ích một cách đơn giản từ việc có vật; quyền thu lợi (Fructus), có nghĩa là thu nhặt bất kỳ thứ gì có được từ vật do bản chất của vật mang lại; và quyền định đoạt (Abusus), có nghĩa là quyết định số phận của vật về mặt vật lý và pháp lý [14]. Luật La Mã quy định quyền chiếm hữu là một 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vật quyền độc lập với quyền sở hữu. Luật pháp của các nước như Nhật, Pháp, Đức…cũng có quan niệm về quyền sở hữu thừa hưởng nội dung của quyền sở hữu theo luật La Mã và quy định về các loại vật quyền của các chủ thể khác nhau. Hiện nay pháp luật nước ta vẫn theo quan niệm quyền chiếm hữu là một quyền năng thuộc quyền sở hữu.
Đối với trường hợp tài sản của công ty cổ phần. Do công ty là một pháp nhân nên các quyền năng của chủ sở hữu thường tách rời nhau. Và do công ty được tạo nên chủ yếu với mục đích kinh doanh sinh lời, chính bởi vậy tài sản trong công ty luôn có sự thay đổi, tức là khi này quyền sở hữu không chỉ ở trạng thái “ tĩnh” nữa mà việc thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đã chuyển sang trạng thái “ động”. Để tìm hiểu rõ hơn quyền sở hữu của công ty, luận văn sẽ phân tích cấu thành về chủ thể, khách thể và nội dung của quyền sở hữu của công ty cổ phần 1.
Chủ thể quyền sở hữu tài sản trong công ty cổ phần Chủ thể quyền sở hữu của công ty cổ phần chính là công ty cổ phần. Vì công ty cổ phần là một pháp nhân nên chủ thể này mang những đặc trưng riêng. Thứ nhất: công ty cổ phần phải được đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật. Theo đặc điểm của loại hình công ty thì công ty cổ phần là một dạng của công ty đối vốn.
Chính vì vậy công ty cổ phần có sự tách bạch giữa tài sản của công ty và tài sản của chủ sở hữu công ty. Trong quá trình thành lập, khi thực hiện xong nghĩa vụ góp vốn thì phần vốn góp của thành viên chuyển thành sở hữu của công ty, công ty cổ phần phải chịu trách nhiệm hữu hạn bằng tài sản của công ty. Sự thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty cổ phần thể hiện tình trạng tách bạch về quyền sở hữu tài sản của nó với quyền sở hữu tài sản của cổ đông đã thành lập ra nó. Điều đó đòi hỏi trong việc góp vốn vào công ty, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền sở hữu vốn và tài sản góp vốn của thành viên góp vốn phải được chuyển sang cho công ty và lúc đó công ty cổ phần với tư cách là một pháp nhân sẽ là chủ thể quyền sở hữu vốn và tài sản đã góp đó.
Việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn được quy định tại Điều 29 Luật doanh nghiệp 2005. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây: a) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.” Thứ hai, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Để được thừa nhận là một pháp nhân thì công ty đó phải được thành lập một cách hợp pháp.
Thành lập một cách hợp pháp được hiểu là người thành lập công ty phải tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết theo quy định của pháp luật. Người thành lập doanh nghiệp phải nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh cho cơ quan có thẩm quyền. Nội dung của hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với công ty cổ phần được quy định cụ thể tại Điều 19 Luật doanh nghiệp 2005: Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty cổ phần 1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Dự thảo Điều lệ công ty. Danh sách cổ đông sáng lập và các giấy tờ kèm theo sau đây: a) Đối với cổ đông là cá nhân: bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác; b) Đối với cổ đông là tổ chức: bản sao quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức; văn bản uỷ quyền, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo uỷ quyền. Đối với cổ đông là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải có chứng thực của cơ quan nơi tổ chức đó đã đăng ký không quá ba tháng trước ngày nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.
Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định. Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân khác đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.” Đăng ký kinh doanh là khâu cuối cùng để công ty có thể chính thức đi vào hoạt động. Chỉ sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty mới được pháp luật thừa nhận một cách chính thức.