Chương I nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về các cơ quan nhân quyền trên thế giới. Chương này phân tích khái niệm về nhân quyền, các cơ chế nhân quyền và tập trung vào các mô hình CQNQ trên thế giới. Dựa trên các phân tích này luận văn tổng hợp những kinh nghiệm và đánh giá về các mô hình CQNQ khác nhau trên phạm vi toàn cầu và khu vực. Chương II xem xét cơ sở xây dựng cơ quan nhân quyền nhìn từ khu vực ASEAN.
Chương này tập trung khái quát sự phát triển của ASEAN, sự cần thiết phải xây dựng CQNQ, những đặc thù về văn hoá, kinh tế, chính trị và xã hội cũng như nhận thức và thực tiễn về bảo vệ quyền con người tại các nước ASEAN. Vấn đề hợp tác trong lĩnh vực nhân quyền, đặc biệt là nghĩa vụ xây dựng CQNQ mà các nước ASEAN đã cam kết trong Hiến chương cũng được nghiên cứu. Với tư cách là một thành viên của ASEAN, Việt Nam không thể 9 z đứng ngoài những hoạt động này do vậy những đề xuất trong luận văn cũng nhằm phục vụ cho chính sách nhân quyền của Việt Nam nói riêng và lợi ích của Việt Nam nói chung. Chương III phân tích Bản quy chế tham chiếu của AICHR mới được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 42, những thách thức khi cơ quan này đi vào hoạt động và đề xuất một số biện pháp giúp cơ quan này hoạt động hiệu quả cũng như lộ trình để cơ quan này ngày càng hoàn thiện hơn nhằm theo kịp các cơ chế nhân quyền khu vực.
Chương III cũng phân tích công tác chuẩn bị của Việt Nam và đưa ra kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật khi AICHR đi vào hoạt động và phát triển. 10 z Chƣơng 1 - CƠ SỞ PHÁP LÝ QUỐC TẾ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI VÀ THỰC TIỄN CÁC CƠ QUAN NHÂN QUYỀN THẾ GIỚI 1. Tổng quan về nhân quyền trong Luật quốc tế Điều 1 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới nêu rõ “mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền”. Do vậy, Nhân quyền tất cả những quyền và tự do cơ bản mà bất kỳ con người nào sinh ra đều có.
Tuy nhiên, để được thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới, thì khái niệm nhân quyền đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài gắn với lịch sử phát triển và giải phóng con người qua các hình thái kinh tế-xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp. Đầu tiên khái niệm nhân quyền có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ dưới dạng các quyền tự nhiên của con người như quyền được sống… Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người, không có và không được thừa nhận các quyền con người. Chế độ phong kiến so với chế độ nô lệ là một bước tiến trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con người trong đó quyền được sống, được sở hữu chính bản thân mình đã được thừa nhận. Tuy nhiên, quan hệ giữa những người thuộc bộ máy Nhà nước Phong kiến với nhân dân vẫn là quan hệ giữa một bên là những người có đầy đủ các quyền và tự do cơ bản của con người, có quyền định đoạt về quyền và sự sống của người bị trị, với một bên là những người chỉ có được một số quyền và tự do rất hạn chế.
Đến giai cấp tư sản, là giai cấp đầu tiên nêu ngọn cờ nhân quyền từ các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, công lý, tuyệt đối hoá tự do cá nhân, nhấn mạnh yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con người. Phải kể đến ở đây 3 bản tuyên ngôn nhân quyền bất hủ ra đời sau cách mạng Anh, Pháp và Mỹ, đó là Tuyên ngôn nhân quyền được Nghị Viện Anh thông qua vào năm 1688 sau cuộc nội chiến và chiến thắng của Oliver Cromwell; 11 z Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, được Quốc hội Pháp thông qua năm 1789 và Tuyên ngôn nhân quyền Hoà Kỳ (gồm 10 bản sửa đổi đầu tiên của Hiến pháp) được thông qua năm 1791. Cả ba bản tuyên ngôn này đều nêu rõ và thừa nhận các qyền và tự do của con người trong xã hội, chúng nhanh chóng có ảnh hưởng rộng khắp, vượt ra ngoài biên giới quốc gia và những nội dung được nêu trong tuyên ngôn này đã trở thành những khái niệm căn bản cho hệ thống nhân quyền ở châu Âu nói riêng và thế giới nói chung. Bản tuyên ngôn nhân quyền của Pháp được bắt đầu bằng câu nói bất hủ “Con người sinh ra đều có quyền tự do và bình đẳng”.
Trong đó “tự do là khả năng được làm tất cả những gì không gây hại cho người khác” (điều 4). Ngày nay, bản Tuyên ngôn này vẫn được coi là chuẩn mực cho các Hiến pháp của Pháp qua các thời kỳ và có ảnh hưởng rộng rãi sang sác nước châu Âu khác và các nước từng là thuộc địa của Pháp. Tuy vậy quyền con người trong giai cấp tư sản chỉ tập trung nhấn mạnh quyền dân sự, chính trị, coi nhẹ quyền kinh tế, văn hoá, xã hội. Chủ nghĩa Mác và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã bổ sung thêm một số khía cạnh cho khái niệm nhân quyền.
Theo đó, khái niệm quyền cơ bản của con người không tách khỏi nhà nước. Theo Mác, nhân quyền là một giá trị được hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp: quyền con người không phải là một khái niệm trừu tượng, cũng không phải chỉ là những quyền mang tính tự nhiên bẩm sinh, mà luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột chống bất công trong xã hội, gắn với từng trình độ phát triển của xã hội, chịu sự hạn định của chế độ kinh tế, đặc biệt là chế độ chính trị - nhà nước [30, tr. Với phong trào giải phóng dân tộc và quá trình phi thực dân hoá từ những năm 50-60 của thế kỷ trước, dẫn tới sự ra đời của một loạt các quốc gia 12 z đang phát triển, khái niệm nhân quyền được gắn với quyền dân tộc tự quyết. Quyền dân tộc tự quyết được hiểu là các quyền tự quyết định và tự do lựa chọn thể chế chính trị, văn hoá, tự do theo đuổi con đường phát triển kinh tế, xã hội và tự do định đoạt tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình, vì lợi ích của mình, miễn là không phương hại đến các nghĩa vụ quốc tế mà mình đã cam kết [30, tr.
Sở dĩ quyền con người gắn liền với quyền dân tộc bởi những quyền này có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau. Một dân tộc tự do, tự định đoạt vận mệnh của mình mới có khả năng đảm bảo cho các cá nhân, với tư cách là một phần của nó, được hưởng một cách đầy đủ những quyền vốn có của mình. Tự do của cộng đồng và tự do của cá nhân có quan hệ nội tại, chế định lẫn nhau. Bên cạnh đó, vài thập kỷ gần đây một học thuyết mới về nhân quyền cũng được hình thành đó là học thuyết tương đối văn hoá 1 (cultural relativism).
Theo học thuyết này, nhân quyền không chỉ được tiếp cận dưới góc độ chính trị, pháp lý, kinh tế mà còn cần được xem xét dưới góc độ văn hoá, bởi nhân quyền cũng có thể được coi là một thành tố văn hoá. Do đó, khái niệm này chịu sự tác động của đặc điểm riêng của các nền văn hoá. Đây chính là cách tiếp cận về nhân quyền ở khu vực châu Á, đặc biệt là cộng đồng ASEAN. Trong báo cáo Băng Cốc năm 1993 các quốc gia ASEAN, cùng các quốc gia châu Á khác đã khẳng định: “Các quyền con người phải được xét.
có tính tới tầm quan trọng của những đặc điểm riêng biệt của quốc gia, khu vực và sự đa dạng về các nền tảng lịch sử, văn hoá và tôn giáo [4, tr. Điều này có nghĩa là các quyền của con người sẽ được áp dụng và bảo vệ trên cơ sở phù hợp với các quy định, chuẩn mực về văn hoá và tôn giáo. 1 Đây là một học thuyết của Frans Boas từ những thập niên đầu thế kỷ XX, sau đó được các sinh viên của ông phổ biến vào năm 1942 13 z Trên bình diện quốc tế, ngày nay quyền con người được chia làm hai nhóm: nhóm thứ nhất bao gồm các quyền cơ bản không thể thiếu được cho sự tồn tại của con người như quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm., nhóm quyền này thiên về phương diện nhân bản học, chú trọng mặt sinh lý, thể chất của con người; nhóm thứ hai bao gồm các quyền của con người sống trong xã hội, nhóm quyền này chú trọng tới mặt xã hội của con người, xã hội càng tiến bộ, các quyền này càng được mở rộng, chẳng hạn như các quyền được học hành, quyền của phụ nữ và trẻ em, quyền được lao động, quyền của các nhóm thiểu số. Nếu như nhóm quyền thứ nhất đòi hỏi nhà nước không có những hành vi can thiệp có thể gây tổn hại, thì nhóm quyền thứ hai lại cần đến sự can thiệp của nhà nước để các quyền này có thể được thực hiện một cách cụ thể.
Cũng có thể hiểu các nội dung của nhân quyền theo cách tiếp cận của khoa học pháp lý. Đây là cách hiểu được cộng đồng quốc tế và các quốc gia thừa nhận. “Nhóm quyền thứ nhất là các quyền chính trị, bao gồm quyền được tham gia vào quản lý nhà nước và xã hội như quyền bẩu cử và ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, lập hội, quyền biểu tình, bãi công, quyền tự do tín ngưỡng… Nhóm quyền thứ hai là các quyền dân sự, bao gồm quyền tự do đi lại và cư trú trong nước, quyền bất khả xâm phạm về thân thể và nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền bí mật về thư tín. Nhóm quyền thứ ba là các quyền kinh tế- xã hội bao gồm quyền lao động, tự do kinh doanh, quyền sở hữu hợp pháp, quyền học tập, quyền nghiên cứu, quyền được bảo vệ sức khoẻ, những quyền mang tính chất ưu tiên như quyền trẻ em, người già, người tàn tật.
Luật quốc tế về nhân quyền 1. Sự phát triển của Luật quốc tế về nhân quyền 14 z Luật quốc tế về nhân quyền có một quá trình phát triển lâu dài tuy nhiên nó thực sự phát triển một cách nhanh chóng từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.