Chương I MOT SO VAN DE LY LUAN VE TRINH DIEN VAN HOA PHI VAT THE TAI BAO TANG 1. Một số khái niệm. Khái niệm “văn hoá" 'Văn hoá thường được quan niệm một cách hình tượng như một thiên nhiên thứ hai - thiên nhiên nhân tạo. An du này thực ra bao hàm trong nó hai nét nghĩa cơ bản: Thứ nhất, văn hoá là một thực thể tồn tại khách quan.
Thứ hai, văn hoá là một lĩnh vực do con người sáng tạo nên. Ở Trung Quốc, từ văn hoá đã có ngay từ thời Tây Hán (206 TCN ~ 25 SCN). Sách Thuyết Uyễn Chỉ 'Vũ của Lưu Hướng thời Tây Hán có câu: Thánh nhân cai tr thiên hạ, trước hết dùng văn đức, sau mới sử dụng vũ lực. Phảm khi đã thiên về dùng vũ lực, thì không khuất phục nỗi, văn hoá không sửa đổi được, cuối cùng sẽ bị suy kiệt Chữ văn hoá ở đây là chỉ sự giáo hoá, đặt đối trọng với vũ lực.
Từ Hồng Hưng. cho biết: Văn hoá (thời xưa) là văn trị, giáo hoá, lễ nhạc, điển chương, chế độ [Š7. Tuy nhiên, theo ngôn ngữ phương Tây thi có một số điểm khác. Trong tiếng Anh từ tương ứng với vin hoa la “culture”.
Cdn dya theo sw nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Đức W. Wundk, thì từ văn hoá nguồn từ một động từ tiếng Latinh “colere”, sau chuyển thành “cultura” có nghĩa là cày cấy, vun trồng. Cicéron - nhà chính trị hùng biện thời La Mã có. một thành ngữ nỗi tiếng “Filosofia cultura animiest”, nghĩa là: Triết học là văn hoá (sự vun trồng) tinh thần.
Ở đây, ông muốn nói về quá trình giáo dục, bồi dưỡng về mặt tỉnh thần, trí tuệ cho con người [57, tr. Ngày nay, thuật ngữ. văn hoá dần dần tiềm nhập vào đời sóng xã hội một cách sâu sắc, đồng thời nó cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành như: khảo cổ học, din tộc học, nhân học, xã hội học, triết học. Mỗi ngành khoa học kể trên lại bao.
gồm nhiều trường phái lý thuyết khác nhau, từ đó khái niệm văn hoá trở nên 10 ngày cảng đa nghĩa. Các định nghĩa về văn hoá có rất nhiều và cách hiểu không hoàn toàn giống nhau, điều đó tuỳ thuộc vào góc độ và cách tiếp cận của các học giả. ‘Theo UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Giáo dục, Khoa học va Văn hoá của Liên hiệp quốc) văn hoá được hiểu như sau: “Văn hoá nên được để cập đến như là một tập hợp. của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thông và đức tin” (61, tr.
47] Suy ngẫm về văn hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoa” (37, tr. 431] Ông Federico Mayor ~ nguyên Tổng giám đốc UNESCO đã nêu quan niệm của ông ;ăn hoá như sau: “Văn hoá là một bộ phân không thể tách rời cuộc ống và nhận thức = một cách hữu thức cũng như vô thức — của các cá nhân và các cộng đồng. Văn hoá là tổng thể sông động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ cũng như trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của một dân tộc. Vì vậy, văn hoá nhất định sẽ ghi dấu ấn của mình lên hoạt động kinh tế của con người và xác định những mặt mạnh yếu riêng của các quá trình sản xuất trong một xã hội” [57, tr184] Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) cũng viết: “Văn hoá là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh " vực sản xuất tinh thần, tạo ra những giá trị văn hoá, những công trình nghệ thuật, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người” (S7, tr. Văn hoá được hiểu là những hoạt động nhằm phát huy năng lực sáng tạo và thoả mãn các nhu cầu mang tính nhân văn của. con người, trong đó có khát vọng hướng tới chân - thiện ~ mỹ.
Với xu hướng ấy, văn hoá tạo ra các mặt giá trị và các mặt giá trị ấy phải được coi là tiêu chí quan trọng nhất của văn hoá. Do vậy, giá trị văn hoá là tiêu chí cơ bản của một nền văn hoá, có nghĩa là văn hoá có khả năng tạo lập môi trường xã hội cho con người tự khẳng định mình Có thể nói, văn hoá là một trong những thuật ngữ khoa học có nội hàm rộng lớn và phức tạp nhất. Tính chất rộng lớn và phức tạp của khái niệm văn hoá lại được nhân lên nhiều lần khi bản thân văn hoá lại là một yếu tố mang tinh “dong”. Tính “đông” ở đây chính là tính chất biến đổi không ngừng của văn hoá theo tiến trình lịch sử cũng như sự thay đổi của nó theo không gian văn hoá.
Tính chất đặc biệt này của văn hoá đã được GS. Trần Quốc Vượng khái quát bằng một cái tên rất riêng là “thời - không gian” của văn hoá. Ở đây ông muốn nói đến văn hoá trên cả hai chiều đồng đại và lịch đại. Vì vậy mà, khi nói đến văn hoá chúng ta phải xem xét trên cả hai chiều thời gian và không gian, nếu thiểu đi một trong hai chiều nói trên, thành tổ văn hoá mà chúng ta quan sát có thể trở nên vô nghĩa [53, tr.
Do văn hoá có mỗi quan hệ không thể tách rời đối với con người, nên việc tiếp cận văn hoá của các nhà khoa học cũng rất khác nhau. Đã có rất nhiều trường phái lý thuyết nhân học, đặc biệt là nhân học Mỹ không chấp nhận văn hoá là một chuyên ngành độc lập (văn hoá học, cuturologie) mà thường xếp văn hoá vào một trong những nhánh quan trọng của nhân học là *nhân học văn hoa” (cultural anthropology). G My ngudi ta suy tôn E.Tylor là ông tô sáng. lập ra môn "nhân học văn hoá” vào năm 1871, khi Tylor cho in cuốn sách “Văn hoá nguyên thuỷ” ở London.
Trong tác phẩm này tác giả đã dùng một 12 chương để thuyết minh “Đối tượng của khoa học về văn hoá”. Trong khi các trường phái lý thuyết của Pháp, Đông Âu và Việt Nam lại coi văn hoá học là một chuyên ngành độc lập. Truyền thống nghiên cứu văn hoá ở nước Pháp. phát triển theo hướng dân tộc học lý luận (Ethnologie) và xã hội học.
Dân tộc học nghiên cứu, miêu tả văn hoá các bộ lạc chậm phát triển rồi khái quát thành lý luận; còn xã hội học thì miêu tả, phân tích văn hoá cư đân hiện dai [57, tr31]. Còn ngành khảo cổ học lại sử dụng thuật ngữ văn hoá nhằm chỉ toàn bộ sản phẩm vật chất, tỉnh thần và xã hội của chủ nhân nền văn hoá khảo cổ. Ngành này xác định chủ nhân các nền văn hoá thời đại đá cũ trung kỳ trở về trước là người vượn. Thí dụ, chủ nhân văn hoá Mút-chi-ê là người vượn Nê- ăng-đéc-tan; chủ nhân nền văn hoá Chu khẩu điểm (Bắc Kinh) là người vượn -nan-to-rép.[57, 32] Tuy nhiên, dù cho vấn đề phân loại các ngành khoa học có diễn ra phức.
tạp như thế nào đi nữa thì bản thân văn hoá vẫn tôn tại như nó vốn có và công. việc nghiên cứu văn hoá vẫn luôn luôn là một công việc quan trọng hàng dau không chỉ đối với các quốc gia có bề dày văn hoá, mà đó còn là một phân việc. quan trọng của toàn nhân loại trong bồi cảnh hiện nay. Cũng do quan hệ đặc biệt giữa văn hoá với đời sống con người, nên để phù hợp với đời sống của.
con người, văn hoá cũng được sáng tạo nên ở hai dang khác nhau: Văn hoá vật chất và van hod tinh thin, hay nói cách khác đó là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. Khái niệm “văn hod phi vat thé” Trong mỗi lĩnh vực hoạt động thực tiễn của xã hội, văn hoá biểu thị trình độ phát triển, sức sáng tạo của con người. Toàn bộ hoạt động sản xuất xã hội có thể phân chia thành hai dạng: sản xuất vật chất và sản xuất tỉnh thần, tương ứng với hai nhu cầu cơ bản của con người là nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thần. Phù hợp với sự phân chia trên đây, người ta chấp nhân sự phân xuất văn hoá ra hai lĩnh vực: văn hoá vắt chất và văn hoá tình thần - hay nói cách khác l3 là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể.
Tiêu chí chung để xác nhận mọi tượng là văn hoá vật thể hay văn hoá phi vật thể là nó phải hàm chứa những giá trị tiêu biểu về mặt: lịch sử, văn hoá và khoa học. Một vật cụ thể chỉ là biểu hiện vật chất của các mặt giá trị văn hoá, nếu không hàm chứa những mặt giá tri phi vat thể thì đó chỉ còn là dạng tồn tại vật chất thông thường [19]. Van hoa vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do sản xuất vật chất của con người tạo ra như các công trình kiến trúc, công cụ sản xuất và sinh hoạt, đồ ăn và đồ. mặc, các phương tiện đi lại.
Điều 4, Luật Di sản văn hoá định nghĩa di sản văn hoá vật the như sau: “Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cỗ vật, bao vat quéc gia” [15, tr. ‘Van hoa phi vat thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tình thần của con người sáng tao ra như phong tục, tập quán thể hiện trong lối sống, trong các mối quan hệ xã hội của con người, các quy ước thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người với tổ tiên, với lực lượng siêu nhiên mà con người hằng tin tưởng. Đó là toàn bộ trí thức liên quan đến việc sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự sống và phát triển con người như sản xuất lương thực, thực phẩm, y học dân gian, văn hoá ẩm thực, nghề thủ công.