Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN ĐÌU Ở SƠN DƯƠNG, TUYÊN QUANG 1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội địa bàn nghiên cứu 1. Đặc điểm tự nhiên Sơn Dương là một huyện miền núi thuộc tỉnh Tuyên Quang, Việt Nam. Sơn Dương cách thành phố Tuyên Quang 30 km, cách thành phố Thái Nguyên 54 km.
Có thể đến Sơn Dương bằng ba đường, đi từ Hà Nội theo quốc lộ 3 qua Thái Nguyên đến huyện Đại Từ (Thái Nguyên) đi theo quốc lộ 37 là đến thị trấn Sơn Dương; hoặc có thể đi bằng đường quốc lộ 3 đến Thành. phố Thái Nguyên rồi đi theo đường lẻ đến thị trấn Sơn Dương. Ngoài ra, từ Hà Nội đi theo quốc lộ 2 đến thành phố Vĩnh Yên, tới ngã ba Tam Dương rẽ phải, đi thăng là tới thi tran Sơn Dương, cách này đường dễ đi và gần nhất. Sơn Dương có địa hình đồi núi thấp chiếm khoảng 40% diện tích toàn tỉnh.
Địa hình phức tạp, có nhiều sông suối, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn. Độ cao trung bình dưới 500m. Địa hình đổi núi thấp có nhiều loại hình thuỷ tự nhiên có thể đắp ngăn các đổi nhỏ tạo thành lứa nước nhân tạo phục vụ dân sinh, sản xuất nông nghiệp và phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Với hệ thực vật phong phú, nguồn nước dồi dào tạo nên những thác nước tuyệt đẹp ở các xã Hợp Hòa, Đông Lợi, Đông Thọ.có tiềm năng lớn về phát triển du lịch sinh thái.
Sơn Dương nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thời tiết quanh năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, khô và mùa hè nóng, ẩm, mưa nhiều. Lượng mưa trung bình từ 1. Mùa mưa thường tập trung từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm hơn 90% lượng mưa cả năm.
Độ âm không khí tương đối cao, thích hợp cho cây rừng nhiệt đới nên cây cối xanh tốt quanh năm. Do địa hình chia cắt, Tuyên Quang có hai tiểu khu khí hậu rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Sơn Dương thuộc tiểu khu khí hậu phía nam, thích hợp với nhiều loại cây trồng hàng năm và lâu năm. Ngoài trồng lúa nước, người dân nơi đây còn trồng cây.
công nghiệp gồm: chè (nhà máy chè Tuyên Quang, Tháng Mười, Tân Trảo), cây sả làm tỉnh dầu sả, lạc, đậu, tương. Cây ăn quả có: cam, quýt, nhãn, vải, chanh, ngoài ra nơi đây còn phát triển mạnh về lâm nghiệp. Người dân nơi đây cũng tự sản xuất rau, củ, quả để phục vụ cho bữa ăn hàng ngày. phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp, người Sán Dìu còn biết khia thác tre, gỗ, nứa để phục vụ cho nghề đan lát và nghề mộc, trồng chàm để nhuộm.
Được sự quan tâm của Đảng , Nhà nước, người dân được áp dụng nên kinh tế mới, đưa khoa học vào sản xuất nông nghiệp đã tăng lên đáng kể, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao.Cây lương thực chủ yếu là lúa ngoài ra người dân còn trồng ngô, khoai, sắn phục vụ cho chăn nuôi. Sơn Dương cũng phát triển chăn nuôi gia súc, trâu, bò, lợn, dé, gia cằm trước tiên trâu, bò được nuôi lấy sức kéo, sau đó là nguồn cung cấp thực. phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Người Sán Dìu đã biết khai thác và tận dụng nhiều nguồn phân khác nhau: Ngoài phân chuồng còn có phân hun (gồm rễ cây, rễ cỏ, cành lá khô đem đốt cùng đất mục.), phân xanh, phân tươi, 'bùn ao, hồ và cả phân bắc.
Người Sán Dìu chỉ gánh gồng khi đi chợ phiên còn trong sản xuất người ta sử dụng xe quệt. Chiếc xe này có cấu tạo đơn giản, xe được làm bằng tre hoặc gỗ, một đầu hơi nâng lên bởi hai cảng quệt đo một trâu kéo. Nó được sử dụng trên mọi địa hình: bờ ao, ruộng thấp, trên đồi hoặc trong các hẻm. Xe quệt là một phương tiện vận tải thuận lợi, giúp giải phóng đôi vai, giảm bớt sức lao động của người nông dân Sán Diu.
Sơn Dương là một trong những huyện có nguồn tài nguyên trong lòng đất vô cùng phong phú và đa dạng, thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp, chế biến khoáng sản và công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng như: quặng kẽm, quặng mangan, quặng thiếc, bột kẽm, ăntimoan. Bên cạnh đó là nguồn. đá vôi, đất sét, cát, sỏi xây dựng khá dỗi dào. Lâm nghiệp cũng là một tiềm năng, thế mạnh đề phát triển kinh tế của huyện.
Diện tích rừng tương đối lớn với một hệ thực vật rất phong phú. Với độ che phủ rừng cao, Sơn Dương đã góp phần to lớn vào việc bảo vệ môi trường, môi sinh. Phòng chống sạt nở đất, lũ lụt, lũ quét gây thiệt hại vẻ người và của Sơn Dương có 130 điểm di tích lịch sử, trong đó có 18 di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia, 30 di tích xếp hạng di tích cấp tỉnh thuận lợi cho việc. phát triển du lịch với nhiều điểm du lịch hấp dẫn như: Khu du lịch lịch sử, văn hóa và sinh thái Tân Trào nằm ở địa hình thấp, xung quanh được bao bọc bởi những khu rừng nguyên sinh, khí hậu quanh năm mát mẻ, phía Đông Bắc, tiếp giáp với dãy núi Hồng, có dòng suối Khuôn Pén chảy xuống điểm di tích lịch sử Đồng Man - Ling Tau tao nên những thác nước nhiều tầng, hang đá 'Yên Thượng (Trung Yên) 1.
Đặc điểm xã hội Theo kết quả của cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999 ở Tuyên Quang, din tộc Sán Diu có 11. Đến năm 2009, dân số tăng lên 12. Tỷ lệ nam là 49,97%, nữ là 50,13%. Dân số và phân bồ của người Sán Dìu tập trung chủ yếu tại huyện Sơn Dương, rải rác ở 16/33 xã, trong đó có 3 xã tập trung nhiều nhất là xã Sơn Nam, xã Ninh Lai và xã Thiện Kế.
Họ sinh sống liền kể với các tộc người khác như Cao Lan, Tày, Kinh. thực, chủ yếu là lúa. Nông nghiệp, trồng trọt giữ vai trò hạt nhân trong hệ thống các hoạt động mưu sinh của họ. Mọi hoạt động đều diễn ra xoay quanh nông nghiệp.
Để đáp ứng nhu cầu lương thực, rau quả cho các bữa ăn hàng ngày, cũng như thức ăn để chăn nuôi, nguyên liệu dùng trong các ngành khác như dệt, may, nhuộm vải.người Sán Dìu đã sử dụng nhiều loại cây trồng khác nhau. Họ chủ yếu trồng lúa (vó), hoa màu (ngô đỏ — hông lạc, khoai lang — hông di, khoai sọ — xí hủ, sắn trắng - pạc mộc suy „ củ mỡ — thai nhộng suy, đậu tương ~ tương thỏi, lạc đỏ — hông rin thi thỏi .), cây lấy rau (bau, cham, tre, cọ.), cây ăn quả (nhãn, mít, chuối. Họ có đủ loại cây trồng để canh tác theo từng mùa (mùa mưa, mùa khô), theo từng địa hình (ruộng nước, ruộng lẫy thụt, các nương đồi, bãi soi). Ngoài ra, người Sán Dìu còn đi rừng, tận dụng các loại rau rừng để làm phong phú thêm cho bữa ăn hàng ngày của mình.
Qua hoạt động thực tiễn, người Sán Diu đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm, trí thức về việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, các kinh nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi. Những kinh nghiệm này trước đây tuy không xem xét dựa trên cơ sở khoa học nhưng trên thực tế nó mang lại hiệu quả trong lao động sản xuất. Ví dụ việc phân biệt các loại dat giúp đồng bảo tận dụng một cách tối ưu từng loại đất. Loại ruông lầy thụt và ruộng sâu, đồng.
bào chỉ bừa chứ không cày vì loại ruộng này luôn có sẵn nước, đất dạng bùn quánh, không thể cày được vì vậy cần phải bừa nhiều lần để đất được nhuyễn. Với loại đất này sau khi gặt người ta sẽ tận dụng các gốc rơm rạ làm. mùn cho ruộng và rải phân bón. Sau đó xả nước vào ruộng, như vậy vừa có thể làm mục gốc rạ vừa giúp phân bón được trải ngắm khắp ruộng.
bậc thang thì đồng bảo lại có cách làm khác. Ruộng phải ở gần người nước và được khai phá thủ công từ trên xuống dưới. Sau khi tạo xong ruộng, đồng bào tháo nước cho tràn mặt đắt. Những chỗ nồi mô đất cao hơn thì được c\ 20 đi sao cho phù hợp.
Các chân bậc thang ở trên càng rộng cảng tốt nó đảm bảo việc tích trữ nước cho ruộng. Các chân bậc thang ở dưới thấp thì cần được chia nhỏ bởi như vậy mới có thể giữ nước được lâu và chống bị xói lở. Sau khi thu hoạch, đồng bào sẽ đề ruộng không khoảng nửa tháng, khi thấy bề mặt ruộng bắt đầu xuất hiện các vết nứt thì tiến hành cày ải rồi tiếp tục phơi đất thật khô. Sau đó đồng bào xả nước vào ruộng, đất khô gặp nước sẽ nhanh chóng tơi ra, đất lúc này rit tơi xốp, sẵn sàng cho một vụ mùa bội thu.
Hiện nay, ngoài những giống cây trồng truyền thống, cũng như các tộc người khác, người Sán Diu đã tiếp nhận và sử dụng rất nhiều giống cây trồng mới. Đó là các giống lúa lai, ngô lai, cây ăn quả mới cho năng suất và chất lượng cao hơn, không chỉ đáp ứng nhu cầu hàng ngày mà còn tạo điều kiện phát triển kinh tế, tăng thu nhập. Đặc điểm tổ chức xã hội truyền thông Nguoi San Diu rat coi trọng tình cảm láng giềng, đồng bảo cho rằng dân tộc mình ít người, vì vậy cần phải quý mến lẫn nhau và đoàn kết với các dân tộc anh em. Thời phong kiến, trong gia đình và xã hội của người Sin Diu rit nặng nề với tư tưởng trọng nam khinh nữ, người phụ nữ chỉ là thứ yếu.
Phụ nữ không được bản việc làng, việc xã, không được tham gia vào các việc lớn, không được đứng ra cúng lễ, thờ tự. Cường hào, địa chủ và các thầy cúng là các tầng lớp trên, nông dân, tá điền thuộc tầng lớp dưới và thường bị bóc lột nding né. Nguoi San Diu 6 Tuyên Quang có 12 họ, gồm: Trần, Lục, Ôn, Trương, Ninh, Từ, Lê, Diệp, Tạ, Bàng, Đỗ. Nếu trong cùng một dòng họ muốn lấy nhau thì phải cách nhau ít nhất 5 đời, khi lấy phải làm lễ tạ tổ tiên.
hô với người trong dòng họ tuỳ theo tuổi tác chứ không theo ngôi thứ, tức là ai sinh ra trước thì là anh, là chị chứ không phân biệt con chú, con bác. a Trong gia đình người Sán Dìu, người chồng, người cha có vai trò quan trọng, quyết linh mọi việc lớn, các thành viên khác trong gia đình chỉ có quyền bàn bạc chứ không có quyền quyết định. Con trai trưởng được tôn trọng sau vai trò của người bố. Trường hợp người bố mắt, con trai trưởng có quyền quyết định mọi công việc lớn thay bố.
Con dâu, em dâu không được ngồi ăn cơm chung, không được dùng chung chậu rửa mặt, không được ngồi chung giường.