Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 2009, cộng đồng người Sán Dìu tại tỉnh Tuyên Quang có 12.565 người, trong đó địa bàn huyện Sơn Dương tập trung đông nhất với 12.367 người, chiếm tới 98,4% tổng số người Sán Dìu toàn tỉnh. Dân cư phân bố chủ yếu tại 16 trên tổng số 33 xã, tập trung đậm đặc nhất ở ba địa bàn gồm xã Sơn Nam với 789 hộ (3.342 nhân khẩu), xã Thiện Kế với 693 hộ (3.024 nhân khẩu) và xã Ninh Lai. Là một tộc người di cư từ Quảng Đông (Trung Quốc) vào Việt Nam, người Sán Dìu tại Sơn Dương đã định hình nên một diện mạo văn hóa vừa mang tính thống nhất vừa đậm nét đặc thù. Trong chu kỳ đời người, tập quán tang ma giữ vai trò là một thiết chế văn hóa tâm linh tối thượng, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và cấu trúc quan hệ cộng đồng bền chặt.

Tuy nhiên, dưới tác động của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế từ năm 1986 đến năm 2015, các thực hành tang ma truyền thống đang đứng trước sự biến đổi sâu sắc và nguy cơ mai một các giá trị cổ truyền. Mục tiêu của công trình là nhận diện toàn diện diện mạo, giá trị và quy trình tang ma truyền thống, đồng thời phân tích các chiều kích biến đổi và nguyên nhân tác động. Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật quan trọng trong việc bổ sung tư liệu dân tộc học, văn hóa học, đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác hoạch định chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng trong nhân học văn hóa nhằm giải mã vai trò của từng nghi thức tang lễ đối với sự ổn định xã hội và củng cố khối đoàn kết dòng tộc. Đồng thời, lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation) được sử dụng để phân tích sự vận động của phong tục dưới tác động của quá trình giao thoa văn hóa giữa người Sán Dìu với các tộc người lân cận như Kinh, Dao, Tày.

Hệ thống khái niệm nền tảng trong nghiên cứu bao gồm:

  • Quan niệm thế giới ba tầng: Cấu trúc vũ trụ luận gồm tầng trời, tầng trần gian và tầng địa ngục.
  • Thuyết vạn vật hữu linh (Animism): Niềm tin vào sự tồn tại của linh hồn trong mọi thực thể tự nhiên và con người, gắn với cấu trúc hồn - vía (nam giới 7 vía, nữ giới 9 vía).
  • Phân định "Tang" và "Ma": Tang lễ đưa thi hài đi chôn cất (sọng san) và nghi lễ làm ma phá ngục giải oan cho linh hồn siêu thoát (chụi củi).
  • Chu kỳ đời người: Chuỗi nghi lễ chuyển giao đánh dấu các mốc sinh - thành - hoại - diệt của một cá nhân trong cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điền dã dân tộc học tại 3 xã Sơn Nam, Thiện Kế và Ninh Lai. Cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 44 người cung cấp thông tin then chốt (informants), bao gồm 12 thầy cúng am hiểu văn tự Hán Nôm và nghi lễ cổ truyền, 6 cán bộ chính quyền cơ sở/trưởng thôn, 15 nông dân cao tuổi và 11 người dân thuộc các độ tuổi, giới tính khác nhau. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm tiếp cận đúng các chủ thể thực hành di sản và người nắm giữ tri thức dân gian.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa định tính (quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) và phân tích định lượng dựa trên bảng hỏi điều tra xã hội học. Việc lựa chọn phương pháp này giúp bảo đảm tính khách quan, tái hiện chân thực bức tranh phong tục tang ma trong trục thời gian từ trước năm 1986 đến năm 2015, đồng thời lượng hóa được mức độ biến đổi của các yếu tố văn hóa truyền thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tang ma của người Sán Dìu là một hệ thống nghi lễ kép mang tính đặc thù cao, phân biệt rạch ròi giữa việc an táng thể xác ("Tang" - thực hiện theo nguyên tắc đào sâu chôn chặt, vĩnh viễn không cải táng) và nghi lễ giải phóng linh hồn ("Ma" - có thể làm ngay hoặc sau 1 đến 3 năm tùy điều kiện kinh tế). Không gian nghi lễ được thiết lập công phu với hệ thống 14 bức tranh thờ chia đều ở hai đàn tả - hữu, kết hợp các pháp khí thiêng như tượng Na Cha Thái Tử cao 9cm, thanh la bốn hướng và cọc tre thu tam tai tam sát (seng chốc hú) dài 60cm.

Thứ hai, tập quán tang ma thể hiện sự phân hóa nghi lễ nghiêm ngặt theo giới tính và vị thế xã hội. Đối với người phụ nữ đã sinh nở, nghi lễ "Giải oan phá ngục huyết bồn" là điểm nhấn văn hóa độc đáo đậm màu sắc Phật giáo dân gian, thể hiện sự tri ân của con cháu đối với công lao sinh thành dưỡng dục. Đối với các trường hợp trùng tang, người dân sử dụng ống tre chẻ 3/4 lồng cành dâu tươi và bùa vàng, chôn tại hố phụ cách huyệt chính đúng 1,0 mét để triệt tiêu tà khí.

Thứ ba, sự biến đổi nghi thức diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay. Thời gian tổ chức đám tang đã rút ngắn từ 3 đến 5 ngày xuống còn khoảng 1,5 đến 2 ngày (giảm từ 50% đến 60% thời lượng). Các vật phẩm nghi lễ truyền thống làm thủ công đã bị thay thế hàng loạt: 100% tranh thờ vẽ tay bằng phẩm màu tự nhiên được thay bằng tranh in công nghiệp; lon kim loại thay thế cho niêu đất cổ truyền trong hũ trữ lương (loáng ang); tiền giấy thay thế hoàn toàn cho đồng tiền kim loại (thống sén).

Thảo luận kết quả

Sự biến đổi của tập quán tang ma bắt nguồn từ sự tương tác phức hợp giữa phát triển kinh tế thị trường, nâng cao nhận thức dân trí và việc thực thi các chính sách văn hóa của Nhà nước (như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII và Quyết định số 22/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).

                               MỨC ĐỘ BIẾN ĐỔI NGHI LỄ TANG MA
  Yếu tố thực hành           Trước năm 1986                   Sau năm 1986 (đến 2015)
  Thời gian tổ chức         3 - 5 ngày (100%)                1,5 - 2 ngày (Rút ngắn ~55%)
  Tranh thờ nghi lễ         Vẽ tay thủ công                  Tranh in công nghiệp / đặt vẽ
  Hũ trữ lương              2 niêu đất nung                  2 lon kim loại / đồ nhựa
  Vật phẩm lót quan tài     Đồng tiền kim loại cổ            Tiền giấy hiện hành
  Văn tự & Sách cúng        Chữ Hán Nôm chép tay             Sách in / phiên âm la-tinh

Dữ liệu khảo sát trên 44 mẫu nghiên cứu cho thấy sự chuyển dịch rõ nét: biểu đồ phân tích thời lượng và bảng so sánh 15 chỉ báo nghi thức xác nhận xu hướng tinh giản các thủ tục rườm rà, tốn kém. Tuy nhiên, sự suy giảm số lượng thầy cúng thông thạo chữ Hán Nôm và sự mai một của nghệ thuật diễn xướng dân gian (như các điệu hát Soọng cô, múa chèo đò) đang đặt ra thách thức lớn đối với việc duy trì bản sắc tộc người.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Số hóa và tư liệu hóa toàn diện di sản: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang chủ trì phối hợp với UBND huyện Sơn Dương tiến hành ghi hình, ghi âm, biên dịch và số hóa 100% hệ thống thư tịch cổ chữ Hán Nôm, 14 bức tranh thờ và các bài cúng tang ma truyền thống trong giai đoạn 2016-2020.
  2. Thực thi chính sách đãi ngộ nghệ nhân và thầy cúng: Ban Dân tộc tỉnh cùng chính quyền cơ sở xây dựng quy chế vinh danh và hỗ trợ phụ cấp định kỳ cho khoảng 20 thầy cúng, trí thức dân gian uy tín tại 16 xã có người Sán Dìu sinh sống, hoàn thành thẩm định trong quý IV hàng năm nhằm khuyến khích truyền dạy chữ viết và nghi lễ cho thế hệ kế cận.
  3. Lồng ghép giáo dục di sản tại các thiết chế văn hóa cơ sở: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Sơn Dương định kỳ tổ chức tối thiểu 02 chuyên đề văn hóa/năm tại các nhà văn hóa xã Thiện Kế, Sơn Nam và Ninh Lai; lồng ghép giới thiệu tri thức dân gian, hát Soọng cô vào chương trình ngoại khóa của 100% các trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn.
  4. Chuẩn hóa hương ước và nếp sống văn minh: Đảng ủy và UBND 16 xã rà soát, bổ sung quy ước thôn bản trước năm 2018; vận động người dân giữ vững thời gian tang lễ trong khung 24 đến 48 giờ, bài trừ triệt để tệ mê tín dị đoan và tục ăn uống linh đình nhưng tôn trọng, bảo lưu các nghi thức nhân văn như lễ bắc cầu (thép con sói) và nghi thức giải oan phá ngục.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà nghiên cứu văn hóa học, nhân học và dân tộc học: Khai thác hệ thống dữ liệu điền dã thực chứng về cấu trúc tang ma của nhóm ngôn ngữ Hán - Tạng tại vùng trung du Bắc Bộ làm tài liệu so sánh, đối sánh liên tộc người.
  • Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Ứng dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng hương ước nếp sống mới, triển khai các đề án bảo tồn văn hóa tộc người thiểu số tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành khoa học xã hội: Tham khảo phương pháp tiếp cận điền dã dân tộc học, kỹ thuật phỏng vấn sâu 44 đối tượng và mô hình xử lý dữ liệu biến đổi văn hóa.
  • Cộng đồng người Sán Dìu và thế hệ trẻ: Tiếp cận tư liệu khoa học để hiểu rõ nguồn gốc, ý nghĩa nhân sinh của các phong tục cổ truyền, từ đó nâng cao ý thức tự hào và trách nhiệm gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

Tập quán tang ma của người Sán Dìu có điểm gì khác biệt căn bản so với người Kinh?
Người Sán Dìu tuyệt đối không có tục cải táng (bốc mộ) mà thực hiện địa táng vĩnh viễn theo nguyên tắc "đào sâu chôn chặt". Bên cạnh đó, tang ma Sán Dìu tách biệt hai quy trình: đưa thi hài đi an táng ("Tang") và tổ chức đại lễ phá ngục giải phóng linh hồn siêu thoát ("Ma"), có thể diễn ra cách nhau từ 1 đến 3 năm.

Nghi lễ "Giải oan phá ngục huyết bồn" mang ý nghĩa gì?
Đây là nghi thức đặc thù dành riêng cho phụ nữ đã từng sinh con. Theo quan niệm dân gian, người mẹ khi sinh nở mang tội làm vấy bẩn đất trời nên linh hồn bị đày đọa nơi ngục huyết bồn. Con cháu tổ chức lập đàn phá ngục nhằm rửa sạch tội lỗi, thể hiện đạo hiếu sâu sắc và lòng tri ân đối với thiên chức làm mẹ.

Tại sao con cháu phải thực hiện nghi thức "Bắc cầu" (thép con sói)?
Khi đưa linh cữu qua cổng, con cháu phải nằm rạp nối tiếp nhau dưới đất thành hai lượt (lượt đầu quay đầu vào nhà, lượt sau quay đầu ra cổng) để quan tài khiêng qua người. Nghi thức này biểu thị lòng hiếu kính tột cùng, dùng thân mình làm cầu đưa tiễn cha mẹ bước sang thế giới bên kia an toàn.

Thầy cúng giữ vai trò như thế nào trong đám tang người Sán Dìu?
Thầy cúng là chủ lễ tối cao, đóng vai trò gạch nối trung gian giữa thế giới thực và cõi tâm linh. Thầy cúng phụ trách chọn giờ nhập quan, định hướng huyệt mộ, lập đàn tràng Mộng Sơn - Công Tào, thực hiện các phép thuật bắt trùng tà ma và đọc sớ dẫn đường cho linh hồn nhập tổ.

Luận văn đã ghi nhận những biến đổi lớn nhất nào trong tang ma hiện nay?
Dữ liệu khảo sát chỉ ra ba biến đổi lớn: thời gian tổ chức rút ngắn từ 3-5 ngày xuống còn khoảng 1,5-2 ngày; các đồ mã, tranh thờ in sẵn thay thế vật phẩm thủ công; các quy định kiêng kỵ phức tạp và tục làm cỗ linh đình được tinh giản để phù hợp với đời sống kinh tế mới.

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng và hệ thống hóa toàn diện hệ thống nghi lễ tang ma kép ("Tang" và "Ma") của cộng đồng người Sán Dìu tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
  • Công trình làm sáng rõ các giá trị nhân văn sâu sắc, đặc biệt là đạo lý báo hiếu qua nghi thức giải oan phá ngục và tính cố kết cộng đồng bền chặt trong các thực hành tang lễ.
  • Nghiên cứu đã phân tích xác đáng thực trạng, quy luật biến đổi văn hóa và các tác nhân kinh tế - xã hội chi phối phong tục tang ma trong giai đoạn từ 1986 đến 2015.
  • Cơ sở dữ liệu của luận văn được xây dựng công phu từ 44 mẫu khảo sát điền dã chuyên sâu, cung cấp nguồn tư liệu Hán Nôm và hình ảnh nghi lễ độc bản có giá trị khoa học cao.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp được đề xuất mở ra lộ trình hành động thiết thực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tộc người Sán Dìu trong giai đoạn 2016-2020. Hãy tải và tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để tiếp cận trọn vẹn kho tàng tư liệu văn hóa học đặc sắc này.