Chương 1 TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU, CO SO LY THUYET, DIA BAN VÀ NHÓM TỌC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Mường là một trong những dân tộc có văn hóa độc đáo và đa dạng, vì vậy đã có rat nhiều nghiên cứu về người Mường được công bố từ trước cho đến nay. Trong công trình “Người Mường với văn hóa cô truyền Mường Bi” của nhóm. tác giá Từ Chỉ, Lâm Bá Nam.
là một trong những công trình tiêu biểu tập hợp. nhiều bài nghiên cứu về người Mường. Trong công trình này, các tác giả đã cho. thấy được đời sống cũng như văn hóa độc đáo và đa dạng của người Mường ở.
Mường Bị, cái nôi của văn hóa Mường. Nghỉ lễ tang ma của người Mường cũng được đề cập nhưng mới chỉ mô tả khái quát một số nghi thức chính trong một đám tang truyền thống của người người Mường Bị, tỉnh Hòa Bình. Trong cuốn “Góp phân nghiên cứu văn hóa và tộc người" của tác giả Nguyễn Từ Chi, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc (2003) đã đề cập đến văn hóa. dân tộc Mường từ cối sống đến cdi chết với những quan niệm về hồn, vía, về các thể giới của người sống và người chết Viện dân tộc học, năm 1978, xuất bản cuốn “Các dân tộc ít người ở.
Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc)", Nxb Khoa học và Xã hội Hà Nội. Đây là tác phẩm nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, lịch sử tộc người, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ của các dân tộc ít người ở phía Bắc Việt Nam, trong đó cũng đã nói khái quát về dân tộc Mường. Tác giả người Pháp Jeanne Cuisinier có nhiều năm nghiên cứu về văn hóa Mường ở Việt Nam, trong tác phẩm “Người Afưòng: Địa lý nhân văn và xã hội học” Nxb Lao động (1995) với 861 trang đã giới thiệu chỉ tiết về lịch sử, nơi cư trú, phong tục tập quán. của dân tộc Mường ở Việt Nam.
10 Cuốn sách ảnh “Người Mường ở Việt Nam — Les Muong au Viemam” do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc (1999) là cuốn sách ảnh vô cùng công phu về người Mường ở Việt Nam với các nét đặc trưng về lối sống, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của họ. 'Nhận định khoa học dựa trên kết quả nghiên cứu thực địa và tham khảo công trình của Nguyễn Từ Chỉ và Jeanne Cuisinier. Các bức ảnh đều mang tinh minh hoa cao, được sắp xếp một cách logic theo quan điểm tiếp cận liên ngành, đa ngành. Tác giả Vương Anh, trong tác phẩm “Tiếp cận với văn hóa bản Mường” Nxb Văn hóa dân tộc (2001) đã cho thấy một cái nhín khái quát về văn hóa dân tộc Mường xứ Thanh từ trang phục đến tục cưới hỏi, tang ma, hội mường, hội bản.
Trong tác phẩm này tác giả cũng đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy vốn văn hóa truyền thống đề đổi mới các loại hình hoạt động văn hóa ở bản Mường Nghiên cứu về cộng đồng và nghỉ lễ tang ma người Mường, cũng cần kể đến những công trình như: Tác phẩm “Nghỉ lỄ trong chủ kỳ đời người của người Mường ở Hòa Binh”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội (2013) của tác giá Nguyễn Thị Song Hà, đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh có hệ thống và toàn diện về nghỉ lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình, từ đó làm rõ những đặc điểm chung và sắc thái địa phương của nó trong xã hội truyền thống; bước đầu so sánh và làm rõ những đặc điểm tương đồng và khác biệt trong nghỉ lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình với người Mường ở các tỉnh thành khác; làm rõ sự biến đôi của nghỉ lễ từ truyền thống đến hiện đại đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của sự biến ; từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị trong nghỉ lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình trong quá ih công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập hiện nay. i Luận văn thạc sĩ Văn hóa học (2007), Trường đại học Văn hóa Hà Nội, của tác giả Trần Minh Hương : “Nghỉ lỄ tang ma cổ truyền của người Mường ở Mường Động Tỉnh Hòa Bình”, đã đi tìm hiểu các nghỉ lễ đám tang truyền thống, từ đó nhận diện và nắm bắt đầy đủ những biểu hiện văn hóa vật thể và phi vật thể trong tang ma của người Mường Đông ở Hòa Bình. Riêng ở Ninh Bình cũng đã có một số công trình nghiên cứu về người Mường như sau: Trong cuỗn “Địa chí văn hoá dân gian Ninh Bình” của tác giả Trương, Đình Tưởng , Nxb Thế giới (2004), thể hiện một số nét khái quát về đời sống, vat chat và đời sống tinh thần của người Mường ở Ninh Bình. Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu phong tục tang ma của người Mường ở Ninh Bình nói chung.
Gần đây đã có rất nhiều bài viết trên các báo, tạp chí, hay trên các trang. web điện tử của Ninh Bình giới thiệu một cách khái quát về đời sống vật chất, đời sống tỉnh thần của người Mường ở Ninh Bình. Như vậy, có thể thấy trong số tất cả các công trình nghiên cứu trên chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống về phong tục tang ma của người Mường Kỳ Lão, xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tinh Ninh Binh. Một số khái niệm cơ bản - Tang ma Người Mường Kỳ Lão quan niệm rằng con người có hai phần linh hồn và thể xác.
Người sống có đủ hai phần: linh hồn và thể xác; người chết: linh hồn đã lìa khỏi thể xác. Linh hồn quyết định sự sống của con người, người chết, các hồn đều biến thành ma. Linh hồn tổ tiên luôn phù hộ con cháu, vì 12 thế mà xuất hiện tin ngưỡng thờ cúng tổ tiên và điều đầu tiên phải thực hiện là làm các nghỉ lễ tang ma cho người đã khuất Người Mường ở huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình quan niệm chết chưa phải là hết, linh hồn người chết biến thành ma tiếp tục sự sống ở thế giới khác vẫn hoạt động, sinh hoạt như lúc còn sống. Nếu không lo cho người chết mồ.
yên mả đẹp thì linh hồn người chết sẽ quấy nhiễu người sống, làm hại con cháu, gây ốm đau chết chóc. Do vậy, dù khó khăn mấy họ cũng phải làm lễ đưa linh hỗn người chết về “an cư” ở thế giới bên kia theo đúng tập tục truyền. thống của dân tộc. A “Ma chay là khái niệm được dùng để biểu thị toàn bộ các nghỉ lễ tôn giáo có quan hệ với người chết và những tín ngưỡng gắn liền với nghỉ lễ đó” [24, tr 324].
Trong cuốn Đân rộc học đại cương [10, tr 186] Lê Sỹ Giáo, Hoàng Lương, Lâm Bá Nam, Lê Ngọc Thắng các nhà khoa học dân tộc học Việt Nam đồng tình và nhắc lại khái niệm này. Đào Duy Anh trong cuốn: Việt Nam văn hoá sử cương cho rằng: Tang lễ là lễ đặt ra dé t6 lòng thương xót va kính thờ người chết [1, tr 123]. Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt thì Tang lễ là các nghỉ lễ chôn người chết [19, tr 874], Qua các khái niệm và nhận định trên, chúng ta có thê hiểu là: Tang mứ. là kết hợp giữa các tín ngưỡng dân gian, nghỉ lễ tôn giáo và các quy tắc, hành động ứng xử phản ánh tình cảm, đạo hiểu, đạo nghĩa giữa người sống.
với người sống, giữa người sống với người đã khuất. - Tập tục trong tang ma Tập tục trong tang ma: Lẻ việc (hực hiện các quy tắc, các bước trong. quá trình làm ma của cộng đồng tộc người nó phản ánh những quan niệm, bản sắc riêng liên quan đến các nghỉ thức chôn cất, cúng bái, để tang, kiêng ky. theo quan niệm tín ngưỡng của cộng đông.
13 - Lim ma Đây là cách nói khái quát quá trình thực hiện các lễ nghỉ chôn cất người chết [19, tr 536] của gia đình, dòng họ hay cộng đồng. Với quan niệm trên chúng ta có thể biểu đạt: Làm ma là việc người sống (gia đình, dòng họ, công đằng) tiến hành các thủ tục, nghỉ thức chôn cắt người chết theo tập tục truyền thống của tộc người với những bản sắc riêng được lưu truyễn từ đời này sang. ~ Làm chay “Theo tác giả Vũ Ngọc Khánh: Lễ tục của người Việt, lễ chay là lễ cúng để giải oan, siêu thoát linh hồn, trừ trùng, cầu cho người sống khoẻ mạnh. Thường tổ chức 7 đêm cúng ở chùa, đàn tràng cúng phật Thập điện Diêm Vương, các thần linh.
Lễ cúng trên chay dưới mặn. Làm chay cho người chết đuối, đàn tràng được thiết lập ngay ở bờ sông, bờ hồ. Chết phải giờ xấu chạm tuôi, có trùng tra khảo, dẫn về nhà bắt người thân thích, nên làm chay cúng lễ trừ trùng. Hoặc khi nhà làm ăn không thuận lợi (không mát) oan hồn quấy nhiễu trú ngụ tại nơi đất ở hoặc lân khuất ở cạnh ao, hồ, nhà có thê bắt trẻ sơ sinh làm đau yếu người lớn, phải làm chay để cing [14, tr 274 - 275] Người Mường Ky Lao /dm ehay cũng là một tập tục gồm những nghi lễ cúng thần linh, các đắng siêu nhiên liên quan đến quan niệm của con người về các hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh nhằm giải trừ cái xấu cầu mong cái tốt lành trong đời sống gia đình, đến thân phận của người chết.
Tóm lại đó là: Lễ cúng thần linh, các đắng siêu nhiên liên quan đến quan niệm của con người về các hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh nhằm giải trừ cái xấu cầu mong cái tốt lành trong đời sống gia đình, đến thân phận của người chết. 14 - Để tang là người thân trong gia đình, dòng họ với quan hệ chung và quan hệ cụ thể của từng nhóm người tỏ lòng tiếc thương, tướng nhớ đến người thân đã mắt được biểu hiện thông qua trang phục và các đấu hiệu liên quan khác (cờ tang, cắm lá xanh trước cửa. Chằng hạn đối với người Kinh, khi trong nhà, trong họ có người chết, người ta phải để tang. Dấu hiệu để tang là đội khăn trắng, mặc quân áo trắng.
để tỏ lòng thương tiếc người chết. Đại tang là tang cha, mẹ, phải đội mũ rơm, chít khăn trắng. Cha mẹ chết khăn quần đầu, bỏ hai múi ra sau lưng. Nếu một người chết, một người còn thì hai múi ấy phải một múi dài, một múi ngắn.
Các tang khác chỉ vấn khăn, không bỏ múi. Việc để tang có chế độ rõ ring, dai tang phải đội khăn trong 3 năm. Các tang khác tuỳ theo từ 1 tháng đến 1 năm.