Tổng quan nghiên cứu

Huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương sở hữu bề dày trầm tích lịch sử với 182 di tích, trong đó có 8 di tích cấp quốc gia và 5 di tích cấp tỉnh. Nổi bật tại vùng chiêm trũng ven sông Luộc, cụm di tích đền - chùa Trông thuộc xã Hưng Long khởi dựng từ thế kỷ 11 thời nhà Lý, mang đậm dấu ấn giao thoa giữa Phật giáo Đại thừa và tín ngưỡng thờ phụng danh nhân có công với đất nước. Tuy nhiên, trải qua biến thiên lịch sử, đặc biệt là giai đoạn tiêu thổ kháng chiến năm 1947 cùng sức ép đô thị hóa trong thời kỳ hội nhập, không gian văn hóa và diễn trình nghi lễ truyền thống nơi đây đứng trước nguy cơ mai một, biến dạng và suy giảm bản sắc độc bản.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là khảo sát có hệ thống không gian văn hóa, phục dựng diễn trình lễ hội xưa và nay, đánh giá đa chiều các giá trị lịch sử, nghệ thuật, kinh tế du lịch, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp bảo tồn khả thi theo Luật Di sản văn hóa. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại xã Hưng Long với diện tích tự nhiên 409 ha, dân số trên 4.100 người, đặt trong mối liên hệ không gian văn hóa hạ lưu sông Luộc thuộc huyện Ninh Giang và các tỉnh phụ cận như Thái Bình, Hải Phòng. Thời gian khảo sát thực địa trọng tâm được triển khai trong giai đoạn 2010 - 2012, kết hợp đối sánh tư liệu lịch sử qua nhiều thế kỷ. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là cơ sở khoa học giúp nâng cao 100% hiệu lực quản lý nhà nước tại di tích, định hướng xã hội hóa hoạt động lễ hội và tạo bước đột phá trong phát triển du lịch văn hóa bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chức năng văn hóa và lý thuyết biến đổi văn hóa làm nền tảng lý luận xuyên suốt. Lý thuyết chức năng giúp phân tích vai trò của lễ hội trong việc củng cố mối liên kết cộng đồng làng xã, dung dưỡng đời sống tâm linh và tái tạo năng lượng sản xuất nông nghiệp của cư dân châu thổ sông Hồng. Trong khi đó, lý thuyết biến đổi văn hóa cung cấp góc nhìn biện chứng về sự chuyển dịch của các biểu tượng, nghi thức và không gian thờ tự dưới tác động của chiến tranh, điều kiện kinh tế thị trường và xu thế giao lưu quốc tế.

Nghiên cứu vận hành trên mô hình tương tác ba chiều giữa: Chủ thể thực hành văn hóa (cộng đồng cư dân làng Hán Lý, Hào Khê, Trai Hào) - Không gian thiêng (quần thể kiến trúc đền - chùa Trông) - Diễn trình nghi lễ (phần Lễ và phần Hội). Khung lý thuyết tích hợp hệ thống 5 khái niệm chuyên ngành cốt lõi gồm: không gian văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể, thiết chế lễ hội truyền thống, biến đổi cấu trúc nghi lễ và bản sắc văn hóa xứ Đông.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu được tổng hợp đa tầng từ thư tịch cổ như Đại Nam nhất thống chí, Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, hệ thống văn bia, thần tích, tộc phả, kết hợp cùng hồ sơ khoa học xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 2003 của Bộ Văn hóa - Thông tin và các báo cáo khảo sát văn hóa dân gian tỉnh Hải Dương.

Về phương pháp thu thập dữ liệu điền dã, tác giả triển khai khảo sát với cỡ mẫu gồm 120 phiếu điều tra bảng hỏi bán cấu trúc đối với người dân địa phương và du khách thập phương. Đồng thời, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 15 nhân chứng then chốt, bao gồm các vị cao niên am hiểu điển tích làng, nghệ nhân dân gian, đại diện Ban Quản lý di tích và cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở. Phương pháp chọn mẫu định ngạch có chủ đích được ưu tiên áp dụng nhằm tối ưu hóa độ chính xác của nguồn tri thức bản địa và các ký ức lễ hội cổ truyền.

Để xử lý khối tư liệu phức hợp, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học: kết hợp sử học, bảo tàng học, nghệ thuật học và dân tộc học với kỹ thuật quan sát tham dự trực tiếp trong các kỳ lễ hội từ năm 2010 đến 2012. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh lịch sử cho phép bóc tách mạch lạc từng lớp trầm tích văn hóa, đối chiếu chính xác sự chuyển dịch giữa cấu trúc lễ hội trước năm 1945 và thực trạng phục dựng trong giai đoạn đương đại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định quần thể đền - chùa Trông là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc bản theo bố cục "Nội công ngoại quốc" và nguyên lý "Tiền Phật, Hậu Thánh". Điểm nhấn kiến trúc là tòa Tam Quan cao 19m, dài 27,5m, rộng 3,5m với kết cấu 4 tầng chồng diêm cổ các đồ sộ nhất tỉnh Hải Dương. Chùa chính lưu giữ 17 lớp tượng gỗ thời Nguyễn có giá trị tạo hình cao, cùng pho tượng đồng đúc liền khối nguyên bản của Thiền sư Nguyễn Minh Không tọa lạc tại Hậu cung đền Trông.

Thứ hai, luận văn làm sáng tỏ và phân định dứt khoát sự khác biệt lịch sử giữa Thiền sư Nguyễn Minh Không (1016 - 1141) và Thiền sư Dương Không Lộ (1016 - 1094) - hai nhân vật từng bị đồng nhất trong nhiều tài liệu dân gian trước đây. Đền Trông là nơi thờ chính Minh Không Thiền sư, trong khi chùa Trông thờ Phật cùng 3 vị cao tăng thời Lý là Không Lộ (người có thân mẫu quê tại thôn Hán Lý), Giác Hải và Từ Đạo Hạnh.

Thứ ba, nghiên cứu tái hiện trọn vẹn diễn trình lễ hội cổ truyền kéo dài 15 ngày, diễn ra từ ngày 15 tháng 3 đến mùng 1 tháng 4 âm lịch. Trục nghi lễ then chốt gồm 4 sự kiện trọng điểm: Lễ rước nước sông Luộc vào ngày 15 tháng 3 với đội hình 2 thuyền rước gồm 20 người lấy nước thanh thủy đúng 12 giờ trưa; Lễ rước Thành hoàng và tế lễ vào ngày 16 tháng 3; Lễ rước xuất Đông nhập Tây vào ngày 20 tháng 3; Lễ kỷ niệm ngày hóa của Đức Thánh vào ngày 26 tháng 3.

Thứ tư, nghiên cứu lượng hóa sự biến đổi không gian di tích: Sau chủ trương tiêu thổ kháng chiến năm 1947 khiến di tích bị tháo dỡ gần như hoàn toàn, công tác khôi phục từng bước được tiến hành qua các năm 1978, 1984, 1989 và 2000. Dù vậy, không gian sinh hoạt lễ hội bị co hẹp so với nguyên trạng, sới vật cổ truyền chỉ còn một phần phế tích, khu vực ao rối 819 m2 chịu áp lực xâm lấn hạ tầng và phần hội bị lược giảm khoảng 40% các trò chơi dân gian như múa rối cạn, hát ả đào, đánh gậy.

Thảo luận kết quả

Sự biến đổi của lễ hội chùa Trông bắt nguồn từ sự tương tác phức tạp giữa bối cảnh lịch sử chiến tranh và áp lực phát triển kinh tế - xã hội. Việc thu hẹp khuôn viên xuất phát từ áp lực gia tăng dân số xã Hưng Long từ 2.751 người năm 1930 lên 4.115 người năm 2002, chia cắt 209 ha đất canh tác và tạo nên sự đan xen giữa khu dân cư với ranh giới di tích.

Về mặt học thuật, các dữ liệu chuyển dịch nghi lễ và cơ cấu hiện vật có thể được trực quan hóa thông qua bảng đối sánh cấu trúc không gian di tích qua 4 mốc thời gian lịch sử (trước 1945, sau 1954, năm 2003 và giai đoạn 2010 - 2012), kết hợp biểu đồ phân loại tỷ lệ thất truyền của các trò diễn xướng dân gian. So sánh với các lễ hội lớn cùng lưu vực sông Luộc như đền Tranh hay đền Đồng Bằng, lễ hội chùa Trông thể hiện rõ nét tính chất lưỡng hợp giữa Phật giáo cung đình thời Lý với tín ngưỡng cầu nước, trừ tà và tôn vinh tổ nghề đúc đồng của cư dân nông nghiệp lúa nước. Sự phục hồi của lễ hội không chỉ tái lập không gian văn hóa tâm linh mà còn là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế dịch vụ cho 108 thôn làng trên toàn huyện Ninh Giang.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch không gian bảo tồn và giải tỏa quỹ đất: Ủy ban nhân dân huyện Ninh Giang cần chủ trì phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Hưng Long hoàn thiện hồ sơ cắm mốc giới bảo vệ di tích, quy hoạch mở rộng thêm từ 1,5 đến 2 ha đất dự trữ quanh khu vực ao rối 819 m2 và sới vật dân tộc nhằm khôi phục không gian diễn xướng trò chơi dân gian trước năm 2015.

Thứ hai, chuẩn hóa kịch bản nghi lễ và khôi phục trò diễn cổ truyền: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương cần xây dựng văn bản hướng dẫn phục dựng chuẩn xác quy trình tế lễ 15 ngày theo tài liệu khảo cứu, đặc biệt là phục hồi nghi thức rước nước 2 thuyền trên sông Luộc và tổ chức truyền dạy nghệ thuật hát chèo, múa rối nước cho 100% hạt nhân văn nghệ trẻ tại 3 thôn Hán Lý, Hào Khê, Trai Hào trong giai đoạn 2013 - 2016.

Thứ ba, kiện toàn mô hình quản lý và minh bạch tài chính: Thành lập Ban Quản lý di tích chuyên trách gồm 10 đến 15 thành viên đại diện cho chính quyền xã, các bậc cao niên và chuyên gia văn hóa. Thực hiện công khai 100% nguồn thu từ công đức, tài trợ xã hội hóa, đồng thời cam kết trích tối thiểu 60% tổng nguồn thu hàng năm để tái đầu tư vào công tác tu bổ hiện vật, nâng cấp hạ tầng y tế, an ninh trật tự và vệ sinh môi trường mùa lễ hội.

Thứ tư, đẩy mạnh quảng bá sản phẩm văn hóa và liên kết du lịch vùng: Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Ninh Giang cần chủ động xây dựng tour du lịch tâm linh kết nối cụm di tích đền Tranh - đền chùa Trông - đình Cúc Bồ với các tuyến du lịch đường sông liên tỉnh Hải Dương - Thái Bình - Hưng Yên. Ứng dụng công nghệ thông tin và bản đồ số di tích nhằm mục tiêu tăng trưởng 20% đến 25% lượng du khách tham quan trong giai đoạn 2015 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và chính quyền các cấp: Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và khung pháp lý hữu ích giúp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương cùng Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện áp dụng trực tiếp vào công tác phân cấp quản lý, quy hoạch và tổ chức lễ hội cho 182 di tích trên địa bàn.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Văn hóa học, Lịch sử, Tôn giáo học: Công trình là nguồn tư liệu chuyên khảo giá trị về Phật giáo thời Lý, hành trạng các vị Quốc sư và tiến trình biến đổi không gian văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Thứ ba, các doanh nghiệp lữ hành và chuyên gia phát triển sản phẩm du lịch: Cung cấp thông tin chi tiết về giá trị kiến trúc nghệ thuật, diễn trình lễ hội 15 ngày tháng 3 âm lịch và điều kiện kết nối giao thông thủy bộ phục vụ xây dựng các tour du lịch văn hóa - sinh thái ven sông Luộc.

Thứ tư, Ban Quản lý di tích cơ sở và cộng đồng dân cư địa phương: Tài liệu hướng dẫn phương thức bảo tồn nguyên trạng các nghi thức tế tự truyền thống, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội hóa cho di tích.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội chùa Trông tôn vinh những nhân vật lịch sử và tôn giáo nào? Lễ hội suy tôn Thiền sư Nguyễn Minh Không tại đền Trông và thờ Phật cùng 3 vị cao tăng thời Lý gồm Không Lộ, Giác Hải, Từ Đạo Hạnh tại chùa Trông. Đây là những bậc Quốc sư có công lớn với đất nước và nhân dân.

Kiến trúc Tam Quan đền - chùa Trông có điểm gì độc đáo bậc nhất xứ Đông? Tam Quan có chiều cao ấn tượng 19m, dài 27,5m với cấu trúc 4 tầng chồng diêm cổ các, gắn đại tự Bắc địa đổng và Nam thiên động, thể hiện niềm tự hào văn hóa sâu sắc của cư dân Hưng Long.

Ý nghĩa cốt lõi của nghi thức rước nước ngày 15 tháng 3 âm lịch là gì? Nghi thức thể hiện tín ngưỡng cầu nước tinh khiết để bao sái tượng thờ và đồ tế khí, phản ánh ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu của cư dân nông nghiệp lúa nước ven sông Luộc.

Vì sao từng có sự nhầm lẫn giữa Thiền sư Minh Không và Thiền sư Không Lộ? Do sự tương đồng về thời đại tu hành thế kỷ 11, tài năng chữa bệnh cho vua và các huyền tích dân gian về pháp thuật, dẫn đến việc nhiều nguồn tư liệu lịch sử cũ đồng nhất hai vị thiền sư làm một.

Giải pháp trọng tâm nào được đề xuất để bảo tồn di tích chùa Trông hiện nay? Bốn giải pháp then chốt bao gồm mở rộng 1,5 đến 2 ha quỹ đất phụ cận, chuẩn hóa kịch bản tế lễ 15 ngày, kiện toàn Ban Quản lý di tích chuyên trách và liên kết phát triển tuyến du lịch ven sông Luộc.

Kết luận

  • Công trình là nghiên cứu khoa học đầu tiên khảo sát, tập hợp toàn diện và có hệ thống về không gian văn hóa, kiến trúc và lễ hội đền - chùa Trông tại xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
  • Làm rõ tính xác thực lịch sử và phân định rạch ròi hành trạng của 4 vị cao tăng thời Lý gắn liền với đời sống tâm linh bản địa.
  • Phục dựng chi tiết diễn trình lễ hội cổ truyền 15 ngày tháng 3 âm lịch, đồng thời chỉ ra quy luật biến đổi không gian và cấu trúc nghi lễ qua các giai đoạn lịch sử.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi cao, kết hợp hài hòa giữa quản lý nhà nước, quy hoạch hạ tầng và xã hội hóa di sản.
  • Đặt nền móng khoa học cho việc kết nối di tích đền - chùa Trông vào mạng lưới du lịch văn hóa trọng điểm của tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2015 - 2025.

Chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn cần khẩn trương đưa các khuyến nghị của luận văn vào thực tiễn quản lý, quy hoạch đất đai và số hóa di sản. Đồng thời, cộng đồng học thuật cần tiếp tục mở rộng các nghiên cứu so sánh liên vùng nhằm phát huy tối đa giá trị di sản văn hóa xứ Đông trong thời kỳ hội nhập.