Chương 1: Không gian văn hóa lễ hội Chùa Trông xã Hưng Long. uyện Ninh Giang, tnh Hãi Dương. Chương 2: Điễn tình lễ hội Chia Trong xin va nay. Chương 3: Bảo tồn va phit huy các giá tị văn hóa lễ hội Chùa CHUONG 1 KHÔNG GIAN VĂN HÓA LẺ HỘI CHÙA TRÔNG XA HUNG LONG, HUYEN NINH GIANG, TINH HAI DƯƠNG 1.1, Yếu tố ảnh hưởng, tác động đến lễ hội chùa Trông LLL Vite địa lý Nẵnh Giang là một huyện đồng bằng nằm ở phía Nam tính Hải Dương.
“Trên bản đỗ địa lý, huyện Ninh Giang nằm ở vị tri 20 độ 43 vĩ tuyển bắc, 106. độ 24 kính tuyển Đông, Phía Nam huyện chay đãi theo bờ sông Luộc, phía Tây giáp huyện Thanh Miễn, phía Bắc giáp huyện Gia Lộc và Tứ kỳ, phía Đông giáp huyện Tứ Kỳ cũng bai huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) và Quỳnh Phụ (Thai Bình), Toàn huyện gồm 27 xã và một thị trấn với điện tích 135/48km, có số dân là 144, S62 người sống trong 108 thôn, ti, khu phổ Huyện ly Ninh Giang cách thị xã Hải Dương kho 30km về phí Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 90km về phía Tây, và cách thành phố Hãi Phòng 40km về phía Đông. Thời Lý- Trần, Ninh Giang là miễn đắt thuộc Phủ Hạ Hồng (Hng Lộ). Thời thuộc mình phủ Hạ Hồng thuộc phủ Tân An, đến đời Lê đổi lại thành Phủ Hạ Hồng, Phủ Hạ Hồng là đất các huyền Ninh Giang, Thanh Miện, Tứ Kỳ (Hãi Dương) và huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng).
Đến năm Minh Mệnh thứ ba (1822), Phủ Ha Hồng đổi thành Phủ Ninh Giang, gầm đất các huyền Vĩnh Lại, Gia Lộc, Tứ Kỳ và Vĩnh Bảo. Huyện Ninh Giang là huyện Vinh Lei thi Ly - Tần, đến thời thuộc Xinh đổi là Đồng Lại (huộc châu Ha Hing). Thoi Lê sơ đổi li là Đẳng Lai, sau lại đổi thành Vĩnh Lại gồm các xã của huyện Ninh Giang hiện nay, một phần của xã Thanh Giang (Thanh Miện) và một số xã của huyện Vĩnh Bảo Sau Cách mạng tháng Tâm năm 1945, Phủ Ninh Giang được chỉa làm 4 huyện: Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo; huyện Ninh Giang được giữ. tên Ninh Giang cho đến tháng 04 năm 1979 sắt nhập với huyện Thanh Miễn thành huyện Ninh Thanh.
Tháng 04 năm 1996 huyện Ninh Giang được ti lập theo Nghị định 05/NĐ-CP của Chính phủ Nước Cộng hỏa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Miễn đất Ninh Giang nằm ở hạ lưu thuộc loại 6 tring ở châu thổ sông Hồng. Trước lúa hệ thống đường giao thông dựa vào hệ thống sông ngôi vì để ngăn nước. Dịa bản huyện nằm trải dài dọc bờ sông Luộc và bai ven bởi sông Cửa An và sông Dĩnh Đảo.
Sông Dĩnh Dio chạy về Hồng Đức và Quyết “Thắng dài khoáng 10 km phân ranh giới giữa Ninh Giang và Gia Lộc. Hệ thống sông ngồi nhỏ và mương máng đảo được n liền với hệ thống sông ngòi chính đã tạo thành một hệ thông giao thông thủy thuận tiện phục vụ cho. sản xuất nông nghiệp, giao lưu qua li giữa các vùng và phục vụ vận tải quân lương tong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Sông Luộc phải kể đến như một con sông có vai , vị tí chiến lược tong hệ thống giao thông thủy của huyện.
Con sông này chảy qua địa phận của huyện chừng 20km từ xã Văn Giang qua xã Hưng Long, Hồng Phúc, Kiến Quốc, Ninh Thọ, Hiệp Lực đến cuỗi thị trấn Ninh Giang. Vấn là con ông tự nhiên thuộc hệ sông Hồng, sông Luộc cung cấp nguồn phi sa mau mỡ, nguÖn nước tưới quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của cư dân hai bên bờ từ ngân xưa. Từ khi bệ thống sông Hồng được nỗi liên với hệ thống sông Thái Bình bằng sông Luộc, việc di lai bằng iu thuyền ca nỗ có trọng ti tương đối lớn từ Hà Nội đã Hải Phòng và từ Nam Định đến Hải Phòng đã thuận tiện hơn “rước kia hệ thống giao thông của huyện dựa vào những con đường môn, để diễu, hộ thống bờ mương, máng phục vụ tưới iêu. Vào những năm của thể ky XIX đầu thể kỹ XX, để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa thực dân Pháp đã cái tạo một số con đường chính của huyện như đường I7A.
(đường này chạy qua địa phận Ninh Giang khoảng 1km), xây dựng đường sit Ninh Giang _- Cảm Giảng. Bên cạnh đường 17A là trục đường bộ quan trọng bậc nhất của huyện, còn có đường số 20 chạy qua các xã phía Bắc như “Tân Hương, Vạn phúc, Hằng Đức nỗi itn với đường 17A, đường 39. Đường 210 gin iễn với bệ thống tưới tiêu phía Nam huyện qua các xã Đồng Tâm, "Đồng Dụ, Hồng Thái, Ninh Thọ, Kiến Quốc, Hồng Phúc, Tân Phong, Hưng Thái Văn Hội rồi đến khu Nam Thanh Miện. Ngoài ra còn cơn đường giao thông liên xã từ xã Hoàng Hanh qua các xã Quang Hưng, Tân Phong, Ninh Hải, Đông Xuyên, đến xã Tân Hương.
Hệ thống đường giao thông lên xã liên thôn, cùng hệ thống đường quốc ộ, tỉnh lộ và hệ thông để sông Luộc, sông Dinh Đảo, sông Cửa An. kết "hợp với hệ thống giao thông thủy là sự hỗ trợ khá hoàn chỉnh cho vai trồ quan trong của giao thông vẫn ti ong huyện cả mùa mưa lẫn mùa khô, Huyện Ninh Giang nằm trên quốc lộ L7A, bên sông Luộc, lạ ở ngã ba = ơi iếp giáp 3 tính: Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, thực sự là một địa bàn chiến lược quan trọng về mặt chính ti, giao lưu bảng hóa lẫn quân sự ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung và ở cửa ngõ phía Nam tỉnh Hải Dương nói riêng. “Cũng chính do vị trí quan trong nhu vậy mà trong lịch sử, chính quyền phong kiến - thực đân luôn đặt trụ sở hành chính của phủ, huyện, tính tại thị Ninh Giang. Điu kiện tự nhiên kink tb Ninh Giang là một trong những huyện đồng bằng tũng của tính Hãi Tương với cốt đất so với mực nước biển nơi cao nhất là 3,im và nơi thấp nhất là 0.3m, Là một huyện thuẫn nông, cư dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, canh nông vi bản là phương thức sản xuất cơ bản chủ đạo của nhân dân rong huyện.
Trải qua bảng nghĩn năm sản xuất nông nghiệp, "người nông dân cùng với ruộng đồng đã làm ra hạt lúa, củ khoa để tồn bên canh đó côn góp phần không nhỏ vào việc trồng trọt phải chọn lọc vì giữ gìn nhiều giống lúa đặc sản có tiếng của nh Đông như. Nếp bầu Hương, Tâm Xoan, Dự, Dĩ Hương `Với đặc điểm là một vùng thuẫn nông, vùng đất trùng, lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng rắt lớn của gió bão, bảo lt sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn, đặc bệtlà vụ mùa nhiều khu muộng trũng trở thành Bạch Diễn, Trước đây, tình độ thâm canh cây la còn tập kém, bộ giống lúa cũ như típ, chăm, ri, mộc tuyển.cho năng suất thấp, bình ‘quan chi dat 50- 60 kg/sảo (khoảng 2,5 tắn/ha/năm). Ngoài lúa, những xã xen sông Luộc và những xã có cốt đất cao còn trồng được mía, khoai, lạc, vùng, đậu. Nghề trồng dâu gắn liệ nuôi tâm dệt vải tuy chưa phát triên Tông ti, nhưng nghề nuôi tằm đệt vả cỗ truyền ở Bắt BỀ (Đằng Tâm) được soi là một trong những địa danh nỗi tiếng của đất nước về nghề này ở thể ky XXVH - XVL, Vàng đắt Ninh Giang côn là nơi phát sinh nuôi dưỡng nhiều nghề thủ công truyễn thống nỗi tiếng, góp phan không nhỏ vào việc tạo dựng đồi sống vật chấtính thần của nhân dẫn địa phương.
Ven ba sing Luge, suỗt từ trại Vàng (Hưng Long) về dến cổng Sao (thị trấn Ninh Giang), xưa kía tổn ti nạ È vớt cá bột tự nhiên. Nghề vớt cá bột cổ. truyền, nghễ chải lưới cùng với nghề nuôi cá trong ao hỗ nội đồng đã đem li giá tì không nhỏ trong việc tạo ra nguồn dịnh đường duy tị, ti tạo sức lao động. Đồng thời nó cũng đóng gốp vào việc tạo dụng một hình thức sản xuất đem lại hiệ cquả kinh tẾ cao: “Thứ nhất canh tỉ, thứ nhỉ canh viên, thứ ba canh điễn” của nhân dân địa phương.
Một nghề cổ truyền gẵn với sản xuất nông nghiệp và đánh bắt thủy sản là nghề đan lá có tếng ở Văn Diệm (Hưng Thái), La Khê (Ninh Thành), Nghề này đem lại kinh tẾ phụ gia đình trong lúc nông nhàn của cự đân ở làng quê ven sông. To có vị th thuận lợi về giao thông thủy bộ, tị rắn Ninh Giang sớm trở thành rung lâm thương mại của khu vục. Bến Ninh Giang được mệnh danh là bến Gạo. Thủ phủ Ninh Giang xưa kỉa có hàng ch các dây phổ như Ninh Thịnh, Ninh Hoà, Ninh Lãng, phố Bờ Sông.
Trên các dãy phố có đã các mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, nhờ đó thúc đấy kinh tế nhanh chống phát tiễn, tạo điều kiện cho việc xây dựng phổ phường sim uit trở thành một rong những thị tắn lớn của miỄn Đắc rước đây. Điều kiện văn hóa - xã hội Một số nghề cô truyền không những gắn với sản xuất mả còn mang. dâm nét văn hóa truyền thông đặc sắc của nhân dân địa phương như nghề làm bánh gai ởthị trần Ninh Giang tổ tai hàng trăm năm, Dưới bản tay khéo léo, tỉnh tế, giảu tính nghệ thuật làm thợ đình Cúc. Bồ (Kiến Quốc), các công tình kiến trúc nghệ thuật như đình, chùa, đền miễu.
đã được xây dựng và được giữ gìn từ hàng chục thể kỷ nay. Mái đình, "ngôi chùa dưới bóng da xanh đẳng sau lũy tr làng đã và mãi còn là biểu tượng đặc trưng văn hóa cổ truyền của ác làng xã Việt Nam trong lịch sử “Cũng như cộng đồng dân cư các dân tộc Việt Nam nói chung, cư din sống ở miễn đất Ninh Giang có truyền thống quý báu cần củ, sáng tạo trong. lao động sản xuất và trong sinh hoạt văn hóa, yêu quê hương đắt nước, đoàn kết đu tranh, nhân hậu thủy chung. Sự xuất hiện và tên ti của nghề thủ công cổ truyền, sự tổ tại hàn loạt của các công tỉnh kiến trúc văn hộ nghệ thuật và các hình thức sinh hoạt ăn hóa ruyễn thông đặc sắc là kết tính sự sing tao trong di sing sinh host vat chi, Hn inh thẳn của nhân dân địa phương.
Ninh Giang vốn là miễn đất giàu truyền thông văn hóa, tên địa bàn huyện xưa có hàng trăm ngồi ình, chủa, đền, mu. là những công trình kiến trúc có giárị văn hóa - nghệ thuật, được xây đụng làm nơi sinh hoạt văn "hóa tín ngưỡng của nhân đânđịa phương, mặt khác còn là nơi tường niệm các danh nhân lịch sử văn hóa Việt Nam - Những người có công với quê hương đất nước.