Luận văn thạc sĩ văn hóa học giá trị văn hóa nghệ thuật di tích đình làng thượng cung xã tiền phong huyện thường tín thành phố hà nội

Khám phá giá trị văn hóa nghệ thuật đình làng Thượng Cung, xã Tiền Phong, huyện Thường Tín, Hà Nội qua nghiên cứu luận văn thạc sĩ văn hóa học chuyên sâu.

Chuyên ngành

Văn Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

110
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giá trị văn hóa nghệ thuật đình làng Thượng Cung

Luận văn thạc sĩ văn hóa học về giá trị văn hóa nghệ thuật di tích đình làng Thượng Cung của tác giả Lê Vũ Thị Hồng Tươi (2012) là một công trình nghiên cứu văn hóa học chuyên sâu, hệ thống hóa những giá trị cốt lõi của một di sản quan trọng tại xã Tiền Phong, huyện Thường Tín, Hà Nội. Đình Thượng Cung không chỉ là một công trình kiến trúc cổ kính mà còn là nơi kết tinh và lưu giữ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc của vùng đất xứ Đoài xưa. Được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1991, ngôi đình này mang trong mình những dấu ấn lịch sử, mỹ thuật và tín ngưỡng sâu đậm. Việc phân tích luận văn này giúp làm sáng tỏ không chỉ về một di tích cụ thể, mà còn cung cấp một phương pháp luận tiếp cận di sản, kết hợp giữa khảo sát thực địa và hệ thống hóa lý thuyết. Nội dung bài viết sẽ tập trung vào việc làm rõ các giá trị lịch sử, giá trị kiến trúc nghệ thuật, và giá trị văn hóa phi vật thể của đình làng Thượng Cung, dựa trên những phát hiện và phân tích từ tài liệu gốc. Qua đó, khẳng định vai trò của di tích trong đời sống cộng đồng, từ quá khứ đến hiện tại, và đề xuất các định hướng cho tương lai.

1.1. Lịch sử hình thành đình Thượng Cung và vị thế văn hóa

Theo các tư liệu văn tự còn lưu lại, lịch sử hình thành đình Thượng Cung có thể xác định rõ ràng. Dòng chữ Hán khắc trên dạ câu đầu gian giữa tòa Đại bái ghi rõ: “Dương Hòa tam niên tuế thứ Đinh Sửu thủy tân tạo...” (Năm Dương Hòa thứ 3, tức 1637, bắt đầu dựng mới). Điều này cho thấy đình được xây dựng vào đầu thế kỷ XVII, giai đoạn hưng thịnh nhất của kiến trúc đình làng đồng bằng Bắc Bộ. Ngôi đình gắn liền với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, là ba vị tướng công thời nhà Lý: Lê Hoàng, Lê Oai và Lê Võ. Thần phả ghi lại, ba vị là con của ông Lê Đoàn và bà Phạm Thị Thành, sinh ra tại chính trang Thượng Hồng (làng Thượng Cung xưa), có công giúp vua Lý Thái Tông dẹp giặc Chiêm Thành. Vị thế của đình không chỉ là trung tâm hành chính mà còn là không gian thiêng, nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa cộng đồng và các nghi lễ quan trọng, thể hiện sâu sắc đời sống tinh thần của người dân địa phương.

1.2. Đặc trưng văn hóa huyện Thường Tín qua di tích đình làng

Huyện Thường Tín từ lâu đã nổi danh là “đất trăm nghề”, nơi hội tụ nhiều làng nghề thủ công truyền thống. Đặc trưng văn hóa huyện Thường Tín được phản ánh rõ nét qua các mảng chạm khắc tại đình Thượng Cung. Tác phẩm điêu khắc tại đây không chỉ thể hiện kỹ thuật tài hoa của các nghệ nhân mà còn mang đậm dấu ấn của nghề mộc, nghề điêu khắc của chính làng Thượng Cung. Các đề tài như “đua thuyền”, “người gánh gồng”, “cảnh vác cuốc làm ruộng” cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa nghệ thuật và đời sống lao động sản xuất. Bên cạnh đó, các phong tục tập quán xã Tiền Phong như tục thờ tổ nghề cũng được duy trì tại đình, với ban thờ tổ nghề mộc được đặt trang trọng. Di tích đình Thượng Cung, vì thế, trở thành một minh chứng sống động cho văn hóa làng nghề, một bộ phận không thể tách rời của bản sắc văn hóa vùng Thường Tín.

II. Phân tích giá trị kiến trúc nghệ thuật đình làng Thượng Cung

Nghiên cứu về giá trị kiến trúc nghệ thuật của đình Thượng Cung cho thấy đây là một công trình tiêu biểu, hội tụ những tinh hoa của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc gỗ dân gian thế kỷ XVII. Luận văn đã chỉ ra, đình được xây dựng theo bố cục mặt bằng tổng thể hài hòa, tuân thủ các nguyên tắc phong thủy của người Việt xưa với thế “tiền Thần hậu Phật”. Kiến trúc của đình mang những đặc điểm của kiến trúc đình làng đồng bằng Bắc Bộ, với bộ mái cong vút bốn góc, tạo nên vẻ uy nghiêm nhưng vẫn gần gũi. Điểm nhấn đặc biệt và cũng là giá trị cốt lõi của di tích chính là hệ thống các mảng điêu khắc gỗ dân gian. Các cấu kiện kiến trúc như cốn, bẩy, ván nong, câu đầu đều được tận dụng làm “sân khấu” cho các nghệ nhân dân gian thể hiện tài năng. Các tác phẩm này không chỉ có giá trị trang trí mà còn là nguồn tư liệu quý giá, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và đời sống xã hội của thời đại. Đây chính là phần di sản văn hóa vật thể đặc sắc nhất mà đình Thượng Cung còn lưu giữ được.

2.1. Kết cấu kiến trúc đình làng Thượng Cung độc đáo

Tòa Đại đình của đình Thượng Cung có quy mô 3 gian 2 chái lớn, kết cấu theo thức 4 hàng chân cột bằng gỗ lim. Các cột được đặt trên chân tảng đá xanh, thể hiện kỹ thuật xây dựng vững chãi. Hệ thống vì kèo được kết cấu theo kiểu “thượng chồng rường, hạ kẻ”, một dạng thức phổ biến nhưng được biến tấu linh hoạt tại đây. Đặc biệt, bộ mái đồ sộ với bốn góc đao cong vút hình mũi thuyền, lợp ngói mũi hài, tạo cảm giác thanh thoát và bề thế. Không gian bên trong được thiết kế mở, rộng rãi, phục vụ cho các sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Sự kết hợp giữa các yếu tố kiến trúc không chỉ đảm bảo sự bền vững cho công trình qua gần 400 năm mà còn tạo ra một không gian thẩm mỹ mang đậm bản sắc Việt.

2.2. Bí quyết nghệ thuật chạm khắc đình làng Thượng Cung

Giá trị nổi bật nhất của đình Thượng Cung nằm ở nghệ thuật chạm khắc đình làng. Các nghệ nhân xưa đã sử dụng các kỹ thuật chạm lộng, chạm bong kênh một cách điêu luyện để tạo ra những tác phẩm sống động. Đề tài chạm khắc vô cùng phong phú, từ các linh vật như rồng, phượng (Tứ linh) đến các cảnh sinh hoạt đời thường như chèo thuyền, đấu võ, chăn voi. Luận văn của Lê Vũ Thị Hồng Tươi đặc biệt nhấn mạnh các mảng chạm độc đáo như “Rồng mẫu tử”, “tiên cưỡi rồng”. Những hình ảnh này không chỉ thể hiện ước vọng về sự phồn thịnh, ấm no mà còn cho thấy một tinh thần lạc quan, yêu đời của người nông dân. Đây là những minh chứng xác thực cho sự phát triển đỉnh cao của điêu khắc gỗ dân gian Việt Nam thời Hậu Lê.

III. Khai phá giá trị văn hóa phi vật thể đình làng Thượng Cung

Bên cạnh khối di sản văn hóa vật thể đồ sộ, đình Thượng Cung còn là một không gian sống động của di sản văn hóa phi vật thể. Các giá trị này được thể hiện rõ nét nhất qua hệ thống tín ngưỡng và lễ hội truyền thống. Trung tâm của đời sống tâm linh tại đây là tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, ba vị tướng quân họ Lê. Tín ngưỡng này đóng vai trò như một sợi dây vô hình kết nối cộng đồng, củng cố tinh thần đoàn kết và giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử, về lòng biết ơn đối với tiền nhân. Hàng năm, lễ hội truyền thống làng Thượng Cung được tổ chức không chỉ là dịp để thực hành các nghi lễ tế thần mà còn là không gian của các trò chơi dân gian, các hoạt động văn hóa cộng đồng. Đây là lúc những giá trị văn hóa phi vật thể được tái hiện một cách trọn vẹn và đầy sức sống, khẳng định bản sắc riêng của cộng đồng làng xã.

3.1. Ý nghĩa tín ngưỡng thờ Thành hoàng trong đời sống cộng đồng

Thành hoàng làng Thượng Cung là những nhân thần có công với dân, với nước, được lịch sử ghi nhận và được các triều đại ban sắc phong. Việc thờ phụng các ngài thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Tín ngưỡng này có vai trò to lớn trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự làng xã thông qua các quy ước, hương ước. Người dân tìm đến Thành hoàng để cầu mong sự che chở, phù hộ cho mùa màng bội thu, cuộc sống bình an. Không gian đình làng, nơi diễn ra các nghi lễ, trở thành trung tâm của sự cố kết cộng đồng, nơi mọi người cùng chia sẻ niềm tin và trách nhiệm chung. Vai trò của di tích trong đời sống tinh thần vì thế mà trở nên vô cùng quan trọng.

3.2. Sức sống của lễ hội truyền thống làng Thượng Cung

Lễ hội đình làng Thượng Cung là một sinh hoạt văn hóa tổng hợp, bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ được tiến hành trang nghiêm với các nghi thức tế lễ cổ truyền, thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần. Phần hội lại sôi nổi với các trò chơi dân gian, các màn diễn xướng, tạo không khí vui tươi, gắn kết tình làng nghĩa xóm. Luận văn đã chỉ ra, lễ hội không chỉ thỏa mãn nhu cầu tâm linh mà còn là cơ hội để bảo tồn và trao truyền các giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù có những biến đổi theo thời gian, lễ hội vẫn giữ được những nét cốt lõi, minh chứng cho sức sống bền bỉ của văn hóa truyền thống trong xã hội đương đại.

IV. Thực trạng và giải pháp bảo tồn giá trị di tích đình làng

Một phần quan trọng trong các công trình nghiên cứu văn hóa học về di sản là đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn. Luận văn đã chỉ rõ thực trạng di tích đình làng hiện nay tại Thượng Cung. Trải qua gần 4 thế kỷ, di tích đã nhiều lần được tu bổ, sửa chữa, gần nhất là cuộc đại tu năm 2004. Mặc dù điều này giúp công trình tránh khỏi sự xuống cấp nghiêm trọng, nhưng cũng đặt ra thách thức về việc bảo tồn tính nguyên gốc của các cấu kiện kiến trúc và các mảng chạm khắc. Bên cạnh đó, các giá trị di sản văn hóa phi vật thể cũng đối mặt với nguy cơ mai một do sự thay đổi của đời sống xã hội. Do đó, việc xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản một cách khoa học và bền vững là nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi sự chung tay của các nhà khoa học, cơ quan quản lý và chính cộng đồng địa phương.

4.1. Thách thức trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa

Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại đình Thượng Cung đối diện nhiều thách thức. Thứ nhất là vấn đề kinh phí cho việc tu bổ, bảo dưỡng định kỳ. Thứ hai là sự cân bằng giữa bảo tồn yếu tố gốc và việc thay thế các cấu kiện đã hư hỏng nặng. Quá trình tu bổ nếu không được giám sát chặt chẽ bởi các chuyên gia có thể làm mất đi giá trị nghệ thuật và lịch sử của di tích. Ngoài ra, việc nhận thức của một bộ phận cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản vẫn còn hạn chế. Cần có một cơ chế phối hợp hiệu quả giữa Ban quản lý di tích, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn để giải quyết những thách thức này.

4.2. Phương pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản hiệu quả

Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản đình Thượng Cung, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Về di sản văn hóa vật thể, cần ưu tiên các phương pháp bảo tồn tại chỗ, hạn chế tối đa việc thay thế các cấu kiện gốc; lập hồ sơ khoa học chi tiết cho từng mảng chạm khắc. Về di sản văn hóa phi vật thể, cần đẩy mạnh công tác tư liệu hóa, ghi chép, quay phim về lễ hội, các nghi thức truyền thống; khuyến khích sự tham gia của thế hệ trẻ vào các hoạt động văn hóa tại đình. Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch văn hóa tâm linh một cách bền vững có thể tạo ra nguồn lực để tái đầu tư cho công tác bảo tồn, đồng thời quảng bá hình ảnh và giá trị của di tích đến với công chúng rộng rãi hơn.

14/08/2025
Luận văn thạc sĩ văn hóa học giá trị văn hóa nghệ thuật di tích đình làng thượng cung xã tiền phong huyện thường tín thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Ling Thượng Cung và lịch sử hình thành dĩ tích đình làng Chương 2: Giá trị kiến trúc và nghệ thuật đình làng Thượng Cung. Chương 3: Giá trị văn hóa của lễ hội đình làng Thượng Cung. Chuong1 LÀNG THƯỢNG CUNG VA LICH SU’ HÌNH THÀNH DỊ TÍCH ĐÌNH LÀNG 1. Tông quan về làng Thượng Cung 1.

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Thượng Cung là tên một làng thuộc xã Tiên Phong, huyện Thường Tin, thành phố Hà Nội. Làng nằm chếch về phía nam của thành phố Hà Nội, Thượng Cung có vi trí khoảng 20°51" vĩ độ Bắc và 10549! kinh độ Đông. Phía bắc của làng giáp sông Nhuệ, phía nam giáp làng Định Quán, phía đông giáp làng Ngọc Động, phía tây giáp huyện Thanh Oai (Hà Nội) “Thượng Cung cách thủ đô Hà Nội khoảng 20 km vé phía nam và cách thị trắn Thường Tín khoảng S km về phía tây nam với tổng diện tích đất tự nhiên là 5,57 ha. Xưa kia làng nằm bên khúc quanh của con sông Nhuệ với chiều rộng khoảng 30 ~ 35 m.

Thời Pháp thuộc, chính quy thực dân nắn lại sông Nhuệ cho thẳng từ cầu Chiếc đến cầu Phốc nên đã ngăn khúc sông chảy. qua các làng Thượng Cung, Ngọc Động, Phác Động, và Trát Clu, Về địa hình, làng Thượng Cung là vùng đất được bồi đắp bởi sông. Nhuệ xưa cho nên nhìn chung địa hình của làng tương đối bằng phẳng phủ. hợp với nghề trồng lúa nước.

Lịch sử làng Thượng Cung Cho đến nay chưa có tài liệu nào cho biết chính xác làng Thượng Cung. có từ khi nào. Theo thần phả đình làng Thượng Cung, niên hiệu Thiên Thành đời vua Thái Tông nhà Lý, ở trang Thượng Hồng (tức làng Thượng Cung, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, có một nhà danh gia linh t ông cụ tên là Lê Đoàn, bà cụ tên là Phạm Thị Thành, hai ông bà phúc hậu hiện hòa, “2. thông minh man can.

Ong cy lam thay địa lý, thấy đắt làng là đắt tứ linh bèn lập dinh cơ ởvị trí đầu con rồng tọa theo hướng bắc nam bên trái dòng Nhuệ. giang nhìn ra hướng Bắc để ở và dạy học. Bà cụ làm nghề mò tôm bắt cá để lấy tiền sinh sống, trước cửa nhà lập một cái chợ (tục gọi chợ Hồng), nhân dân các nơi kéo đến mua bán, ngày thêm đông đúc, hai ông bà ở đấy được ba năm, làm ăn ngày cing thịnh vượng. Như vậy theo Than pha ở Đình Thượng, Củng do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn thì làng Thượng Cung xưa được hình thành muộn nhất từ đời vua Lý Thái Tông (trị vì từ năm 1028 đến năm 1054).

Tức là thời điểm mà ông bà Lê Đoàn và Phạm Thị Thành đến sinh cơ lập nghiệp. Thần phả cho biết cụ ông thấy đất làng là đất tứ linh bèn lập. dinh cơ để ở và cụ bà cũng đã lập chợ Hồng trước cửa nhà - nơi có rất nhiều người đến mua bán Cũng theo Thần phả của làng, năm Tân Ty 1101 niên hiệu Long Phù đời vua Lý Nhân Tông, nhà vua trên đường đi đánh giặc Nam Man đã qua trang Thượng Hồng (Thượng Cung ngày nay) [31, tr. Đến thời Trần, niên hiệu Hưng Long, vua Trần Anh Tông ngự thuyền.

rồng đi đánh giặc Nguyên, đi tới trang Thượng Hồng, đóng quân ở đó. 'Qua các sử liệu trên chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng làng. Thượng Cung (trang Thượng Hồng xưa) được hình thành từ thời Lý và làng cũng là nơi đừng chân trên đường đi đánh giặc của hai vị vua Lý Nhân Tông và Trần Anh Tông. 'Hơn nữa, căn cứ vào bi kí và văn tự để lại tại làng, đình làng Thượng.

Cung được khởi công xây dựng từ năm Dương Hòa thứ ba (1637) thời vua Lê Thần Tông. Điều này cho thấy làng Thượng Cung là vùng đất cỗ thuộc phủ “Thường Tín có lịch sử gần một ngàn năm. Ngôi làng này gắn với những câu chuyện dân gian kể về những lần vua Lý Nhân Tông và Trần Anh Tông đi -B- đánh giặc Chiêm Thành và Mông Nguyên, hai vi dã dừng chân nơi day va được các vị Thánh ở đình Thượng Cung giúp sức [12] ‘Nam Quang Thuận thứ 10 (1469), thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, làng Thượng Cung có tên là trang Thượng Hồng, xã Thượng Cung, tổng Thượng Cung, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam. Tên nôm của làng là làng Hồng, ở phía nam thành Thăng Long.

Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), nhà Hậu Lê chia trấn Sơn Nam làm ba lộ: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, và lộ Thanh Hoa Ngoại. Thời kì này làng. “Thượng Cung thuộc lộ Sơn Nam Thượng. Thời Tây Sơn, đổi lô thành trấn, xứ Son Nam duge chia ra Sơn Nam Hạ, Sơn Nam Thượng và làng Thượng Cung thuộc huyện Thượng Phúc, trấn Sơn Nam Thượng Cho đến tận đầu thế ki XIX, làng Thượng Cung vẫn còn tên là xã “Thượng Hồng thuộc tổng Thượng Hồng, huyện Thượng Phúc, trấn Sơn Nam Thuong.

Tổng Thượng Hồng lúc đó gồm có 7 xã, thôn: Thượng Hồng, Yên. Phú, Miễu Quán, Vân Trai, thôn Văn Hội thuộc Văn Giáp, thôn Ngoại thuộc 'Văn Giáp, Trát Cầu. Đến tháng 3 năm Gia Long thứ tư (1805), xã Thượng Cung có diện tích 251 mẫu 9 sảo 6 thước; trong đó công điền 2 mẫu 1 sào 13 thước I tắc; tư điền 215 mẫu 9 sào 14 thước và các loại khác như công pha (dốc), thô trạch viên trì, một khu chợ nhỏ, bãi tha ma, gò đồng. Ngoải ra, còn có một số ruộng công của các xã khác đặt tại bản xã.

Đến nửa cuối thế ki XIX, năm 1831, vua Minh Mạng lập ra tỉnh Hà. Thời điểm này làng Thượng Hồng thuộc tổng Thượng Hồng, huyện “Thượng Phúc, phủ Thường Tin, tinh Hà Nội -I5- và Yên Phú. Xã Tiền Phong gồm các làng Thượng Cung, Định Quán, Trát Cầu, Ngọc Động, và Phác Đông. Hiện nay làng Thượng Cung thuộc xã Tiền Phong, huyện Thường Tin, thành phố Hà Nội.

Dân cự Làng Thượng Cung xưa kia được dòng sông Nhuệ, chỉ lưu của sông Hồng, bồi đắp phù sa màu mỡ. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển. nông nghiệp, canh tác trồng lúa của người Việt cỗ. Với điều kiện địa lý thuận lợi ấy nơi đây sớm có cư dân đến sinh sống và lập cư.

Như trên đã nói, thắn tích thành hoàng làng Thượng Cung cho biết từ thời Lý Thái Tông, ông bà Lê Đoàn và Phạm Thị Thành đã đến sinh cơ lập nghiệp ở trang Thượng Hồng xưa. Ông bà chọn đất này vì ông làm thảy địa lý, ông thấy đất Thượng Cung là dat tứ linh và lập đinh cơ đề ở trên đầu con. rồng tọa hướng bắc nam bên trái dòng sông Nhuệ giang nhìn ra hướng bắc để ở và dạy học. Bả cụ lập một cái chợ trước nhà (tục gọi là chợ Hồng), nhân dân các nơi kéo đến mua bán đông đúc, ông bà ở đó được ba bốn năm làm ăn ngày cảng thịnh vượng.

Chỉ tiết trên cho biết vùng đất này từ xưa đã có rất nhiều cư dân quanh vùng sinh sống bởi lẽ cụ ông làm nghề dạy học thì phải có học trò; cụ bà mỡ chợ thì phải có dân đến mua bán, trao dồi. Song có lẽ cư dân quanh vùng thì rất đông nhưng theo thần tích chúng ta có thể khẳng rằng. ông bà Lê Đoàn là người đến lập làng Thượng Cung đầu tiên, sau dân thấy mở chợ, buôn bán sằm uất mới kéo nhau đến quản cư. Ngay từ buổi đầu dân quanh vùng cũng như ở làng đã làm nông nghiệp, sống dựa vào đất đai phù sa màu mỡ mà dòng sông Nhuệ bồi đắp.

Hơn nữa, sông Nhuệ còn là nơi để cư dân khai thác thủy sản sinh sống. Chỉ tiết trong thần phả cho biết bà Phạm Thị Thành làm nghề mò cua, bắt ốc ở rìa bờ sông Nhuệ giang. -16- ‘Dau thé ki XIX, dan trang Thượng Hồng xưa ở thành hai giáp Thượng. Cung và Miếu Quán (Định Quán ngày nay).

Về mặt quy mô cũng như vị trí xã hội có thể coi hai giáp này là những tổ chức trung gian giữa làng và các xóm, nhưng không đơn thuần mang tính chất hành chính hay chính trị, mà giáp là tổ chức xã hội nhằm định hướng và rằng buộc người đàn ông vào. những luật tục cổ truyền theo những quy ước đã định sẵn về ngôi thứ, tuổi tác trong các nghỉ lễ quan — hôn - tang - tế. Giáp ở trang Thượng Hồng xưa được. tổ chức khá chặt chẽ.

Mỗi giáp đều có trùm giáp, trưởng giáp, trưởng bạ để ghi chép số sách và thu quỹ riêng, quản lý các khoản thu chỉ tiễn nhập dinh, lên ngôi thứ, lên lão, cổ lễ, ruộng ky hậu, tạp dịch phu phen, Theo các cụ trong làng cho biết, làng Thượng Cung có khoảng 7-§ dòng họ gồm họ Phạm, họ Nguyễn, họ Lê, họ Phan,. Dòng họ nào đến đây lập cư sớm nhất thì cũng chưa có tài liệu nào đề cập đến. Nhưng dòng họ. chiếm số đông trong làng là dòng họ Phạm.

Đây là các dòng họ định cư lâu đời ở làng, đến nay đã được trên 17 đời và số lượng con cháu đông đúc nhất làng. Bên cạnh các dòng họ định cư ở làng lâu đời, trong làng còn có những, dòng họ, gia đình mới từ nơi khác đến sinh sống vào những năm đầu thời kì kháng chiến chống Pháp. 'Về dân số, hiện làng Thượng Cung thuộc diện trung bình trên địa bản. huyện Thường Tín nói riêng cũng như địa bàn thủ đô nói chung, với điện tích là 5,57 (ha), gồm có 205 hộ với 827 nhân khẩu [25].

Do làng có nghề mộc và trạm khắc truyền thống nên một số gia đình và lao động ở Thượng Cung cũng. chuyển đến nơi khác lập nghiệp cũng như hành nghề tại đó. Dân làm nghề làng Thượng Cung di cư đến khu vực đường Đê La Thành, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đông nhất. Hiện làng có trên chục hộ gia đình và vài chục nhân công đang kinh doanh đồ gỗ và làm nghề trạm khắc, mộc dân dụng tại đường phô này.

Đời sống kinh tế, văn hóa xã hội * Đời sống kinh tế Từ trước đến nay, kinh tế làng Thượng Cung dựa vào hai nguồn chủ yếu là nghề thủ công truyền thống và làm nông nghiệp. Đây có lẽ là đặc điểm chung của nhiều làng ở huyện Thường Tín và tỉnh Hà Tây xưa - nơi vốn được mệnh danh là dat trăm nghề. Thượng Cung nằm ngay cửa ngõ phía nam của kinh đô Thăng Long. xưa, nơi mà con đường Thiên Lý (Bắc Nam) đi qua.

Yếu tố địa lý ấy làm cho. mảnh đất từ xa xưa đã có đông đúc dân cư sinh sống và nảy nở nhiều nghề truyền thống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ