Chương 1: Ling Thượng Cung và lịch sử hình thành dĩ tích đình làng Chương 2: Giá trị kiến trúc và nghệ thuật đình làng Thượng Cung. Chương 3: Giá trị văn hóa của lễ hội đình làng Thượng Cung. Chuong1 LÀNG THƯỢNG CUNG VA LICH SU’ HÌNH THÀNH DỊ TÍCH ĐÌNH LÀNG 1. Tông quan về làng Thượng Cung 1.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Thượng Cung là tên một làng thuộc xã Tiên Phong, huyện Thường Tin, thành phố Hà Nội. Làng nằm chếch về phía nam của thành phố Hà Nội, Thượng Cung có vi trí khoảng 20°51" vĩ độ Bắc và 10549! kinh độ Đông. Phía bắc của làng giáp sông Nhuệ, phía nam giáp làng Định Quán, phía đông giáp làng Ngọc Động, phía tây giáp huyện Thanh Oai (Hà Nội) “Thượng Cung cách thủ đô Hà Nội khoảng 20 km vé phía nam và cách thị trắn Thường Tín khoảng S km về phía tây nam với tổng diện tích đất tự nhiên là 5,57 ha. Xưa kia làng nằm bên khúc quanh của con sông Nhuệ với chiều rộng khoảng 30 ~ 35 m.
Thời Pháp thuộc, chính quy thực dân nắn lại sông Nhuệ cho thẳng từ cầu Chiếc đến cầu Phốc nên đã ngăn khúc sông chảy. qua các làng Thượng Cung, Ngọc Động, Phác Động, và Trát Clu, Về địa hình, làng Thượng Cung là vùng đất được bồi đắp bởi sông. Nhuệ xưa cho nên nhìn chung địa hình của làng tương đối bằng phẳng phủ. hợp với nghề trồng lúa nước.
Lịch sử làng Thượng Cung Cho đến nay chưa có tài liệu nào cho biết chính xác làng Thượng Cung. có từ khi nào. Theo thần phả đình làng Thượng Cung, niên hiệu Thiên Thành đời vua Thái Tông nhà Lý, ở trang Thượng Hồng (tức làng Thượng Cung, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, có một nhà danh gia linh t ông cụ tên là Lê Đoàn, bà cụ tên là Phạm Thị Thành, hai ông bà phúc hậu hiện hòa, “2. thông minh man can.
Ong cy lam thay địa lý, thấy đắt làng là đắt tứ linh bèn lập dinh cơ ởvị trí đầu con rồng tọa theo hướng bắc nam bên trái dòng Nhuệ. giang nhìn ra hướng Bắc để ở và dạy học. Bà cụ làm nghề mò tôm bắt cá để lấy tiền sinh sống, trước cửa nhà lập một cái chợ (tục gọi chợ Hồng), nhân dân các nơi kéo đến mua bán, ngày thêm đông đúc, hai ông bà ở đấy được ba năm, làm ăn ngày cing thịnh vượng. Như vậy theo Than pha ở Đình Thượng, Củng do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn thì làng Thượng Cung xưa được hình thành muộn nhất từ đời vua Lý Thái Tông (trị vì từ năm 1028 đến năm 1054).
Tức là thời điểm mà ông bà Lê Đoàn và Phạm Thị Thành đến sinh cơ lập nghiệp. Thần phả cho biết cụ ông thấy đất làng là đất tứ linh bèn lập. dinh cơ để ở và cụ bà cũng đã lập chợ Hồng trước cửa nhà - nơi có rất nhiều người đến mua bán Cũng theo Thần phả của làng, năm Tân Ty 1101 niên hiệu Long Phù đời vua Lý Nhân Tông, nhà vua trên đường đi đánh giặc Nam Man đã qua trang Thượng Hồng (Thượng Cung ngày nay) [31, tr. Đến thời Trần, niên hiệu Hưng Long, vua Trần Anh Tông ngự thuyền.
rồng đi đánh giặc Nguyên, đi tới trang Thượng Hồng, đóng quân ở đó. 'Qua các sử liệu trên chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng làng. Thượng Cung (trang Thượng Hồng xưa) được hình thành từ thời Lý và làng cũng là nơi đừng chân trên đường đi đánh giặc của hai vị vua Lý Nhân Tông và Trần Anh Tông. 'Hơn nữa, căn cứ vào bi kí và văn tự để lại tại làng, đình làng Thượng.
Cung được khởi công xây dựng từ năm Dương Hòa thứ ba (1637) thời vua Lê Thần Tông. Điều này cho thấy làng Thượng Cung là vùng đất cỗ thuộc phủ “Thường Tín có lịch sử gần một ngàn năm. Ngôi làng này gắn với những câu chuyện dân gian kể về những lần vua Lý Nhân Tông và Trần Anh Tông đi -B- đánh giặc Chiêm Thành và Mông Nguyên, hai vi dã dừng chân nơi day va được các vị Thánh ở đình Thượng Cung giúp sức [12] ‘Nam Quang Thuận thứ 10 (1469), thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, làng Thượng Cung có tên là trang Thượng Hồng, xã Thượng Cung, tổng Thượng Cung, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam. Tên nôm của làng là làng Hồng, ở phía nam thành Thăng Long.
Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), nhà Hậu Lê chia trấn Sơn Nam làm ba lộ: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, và lộ Thanh Hoa Ngoại. Thời kì này làng. “Thượng Cung thuộc lộ Sơn Nam Thượng. Thời Tây Sơn, đổi lô thành trấn, xứ Son Nam duge chia ra Sơn Nam Hạ, Sơn Nam Thượng và làng Thượng Cung thuộc huyện Thượng Phúc, trấn Sơn Nam Thượng Cho đến tận đầu thế ki XIX, làng Thượng Cung vẫn còn tên là xã “Thượng Hồng thuộc tổng Thượng Hồng, huyện Thượng Phúc, trấn Sơn Nam Thuong.
Tổng Thượng Hồng lúc đó gồm có 7 xã, thôn: Thượng Hồng, Yên. Phú, Miễu Quán, Vân Trai, thôn Văn Hội thuộc Văn Giáp, thôn Ngoại thuộc 'Văn Giáp, Trát Cầu. Đến tháng 3 năm Gia Long thứ tư (1805), xã Thượng Cung có diện tích 251 mẫu 9 sảo 6 thước; trong đó công điền 2 mẫu 1 sào 13 thước I tắc; tư điền 215 mẫu 9 sào 14 thước và các loại khác như công pha (dốc), thô trạch viên trì, một khu chợ nhỏ, bãi tha ma, gò đồng. Ngoải ra, còn có một số ruộng công của các xã khác đặt tại bản xã.
Đến nửa cuối thế ki XIX, năm 1831, vua Minh Mạng lập ra tỉnh Hà. Thời điểm này làng Thượng Hồng thuộc tổng Thượng Hồng, huyện “Thượng Phúc, phủ Thường Tin, tinh Hà Nội -I5- và Yên Phú. Xã Tiền Phong gồm các làng Thượng Cung, Định Quán, Trát Cầu, Ngọc Động, và Phác Đông. Hiện nay làng Thượng Cung thuộc xã Tiền Phong, huyện Thường Tin, thành phố Hà Nội.
Dân cự Làng Thượng Cung xưa kia được dòng sông Nhuệ, chỉ lưu của sông Hồng, bồi đắp phù sa màu mỡ. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển. nông nghiệp, canh tác trồng lúa của người Việt cỗ. Với điều kiện địa lý thuận lợi ấy nơi đây sớm có cư dân đến sinh sống và lập cư.
Như trên đã nói, thắn tích thành hoàng làng Thượng Cung cho biết từ thời Lý Thái Tông, ông bà Lê Đoàn và Phạm Thị Thành đã đến sinh cơ lập nghiệp ở trang Thượng Hồng xưa. Ông bà chọn đất này vì ông làm thảy địa lý, ông thấy đất Thượng Cung là dat tứ linh và lập đinh cơ đề ở trên đầu con. rồng tọa hướng bắc nam bên trái dòng sông Nhuệ giang nhìn ra hướng bắc để ở và dạy học. Bả cụ lập một cái chợ trước nhà (tục gọi là chợ Hồng), nhân dân các nơi kéo đến mua bán đông đúc, ông bà ở đó được ba bốn năm làm ăn ngày cảng thịnh vượng.
Chỉ tiết trên cho biết vùng đất này từ xưa đã có rất nhiều cư dân quanh vùng sinh sống bởi lẽ cụ ông làm nghề dạy học thì phải có học trò; cụ bà mỡ chợ thì phải có dân đến mua bán, trao dồi. Song có lẽ cư dân quanh vùng thì rất đông nhưng theo thần tích chúng ta có thể khẳng rằng. ông bà Lê Đoàn là người đến lập làng Thượng Cung đầu tiên, sau dân thấy mở chợ, buôn bán sằm uất mới kéo nhau đến quản cư. Ngay từ buổi đầu dân quanh vùng cũng như ở làng đã làm nông nghiệp, sống dựa vào đất đai phù sa màu mỡ mà dòng sông Nhuệ bồi đắp.
Hơn nữa, sông Nhuệ còn là nơi để cư dân khai thác thủy sản sinh sống. Chỉ tiết trong thần phả cho biết bà Phạm Thị Thành làm nghề mò cua, bắt ốc ở rìa bờ sông Nhuệ giang. -16- ‘Dau thé ki XIX, dan trang Thượng Hồng xưa ở thành hai giáp Thượng. Cung và Miếu Quán (Định Quán ngày nay).
Về mặt quy mô cũng như vị trí xã hội có thể coi hai giáp này là những tổ chức trung gian giữa làng và các xóm, nhưng không đơn thuần mang tính chất hành chính hay chính trị, mà giáp là tổ chức xã hội nhằm định hướng và rằng buộc người đàn ông vào. những luật tục cổ truyền theo những quy ước đã định sẵn về ngôi thứ, tuổi tác trong các nghỉ lễ quan — hôn - tang - tế. Giáp ở trang Thượng Hồng xưa được. tổ chức khá chặt chẽ.
Mỗi giáp đều có trùm giáp, trưởng giáp, trưởng bạ để ghi chép số sách và thu quỹ riêng, quản lý các khoản thu chỉ tiễn nhập dinh, lên ngôi thứ, lên lão, cổ lễ, ruộng ky hậu, tạp dịch phu phen, Theo các cụ trong làng cho biết, làng Thượng Cung có khoảng 7-§ dòng họ gồm họ Phạm, họ Nguyễn, họ Lê, họ Phan,. Dòng họ nào đến đây lập cư sớm nhất thì cũng chưa có tài liệu nào đề cập đến. Nhưng dòng họ. chiếm số đông trong làng là dòng họ Phạm.
Đây là các dòng họ định cư lâu đời ở làng, đến nay đã được trên 17 đời và số lượng con cháu đông đúc nhất làng. Bên cạnh các dòng họ định cư ở làng lâu đời, trong làng còn có những, dòng họ, gia đình mới từ nơi khác đến sinh sống vào những năm đầu thời kì kháng chiến chống Pháp. 'Về dân số, hiện làng Thượng Cung thuộc diện trung bình trên địa bản. huyện Thường Tín nói riêng cũng như địa bàn thủ đô nói chung, với điện tích là 5,57 (ha), gồm có 205 hộ với 827 nhân khẩu [25].
Do làng có nghề mộc và trạm khắc truyền thống nên một số gia đình và lao động ở Thượng Cung cũng. chuyển đến nơi khác lập nghiệp cũng như hành nghề tại đó. Dân làm nghề làng Thượng Cung di cư đến khu vực đường Đê La Thành, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đông nhất. Hiện làng có trên chục hộ gia đình và vài chục nhân công đang kinh doanh đồ gỗ và làm nghề trạm khắc, mộc dân dụng tại đường phô này.
Đời sống kinh tế, văn hóa xã hội * Đời sống kinh tế Từ trước đến nay, kinh tế làng Thượng Cung dựa vào hai nguồn chủ yếu là nghề thủ công truyền thống và làm nông nghiệp. Đây có lẽ là đặc điểm chung của nhiều làng ở huyện Thường Tín và tỉnh Hà Tây xưa - nơi vốn được mệnh danh là dat trăm nghề. Thượng Cung nằm ngay cửa ngõ phía nam của kinh đô Thăng Long. xưa, nơi mà con đường Thiên Lý (Bắc Nam) đi qua.
Yếu tố địa lý ấy làm cho. mảnh đất từ xa xưa đã có đông đúc dân cư sinh sống và nảy nở nhiều nghề truyền thống.