phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chương l: Tổng quan về chùa Lỗi Sơn Chương 2: Giá trị văn hóa vật thể chùa Lỗi Sơn Chương 3: Giá trị văn hóa phỉ vật thể chùa Lỗi Sơn 10 ‘Chuong 1 TONG QUAN VE CHUA LOI SON 1,1. Khái quát về xã Gia Phong. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1-1-1. VỊ tí địa lý XA Gia Phong có diện tích tự nhiên là 555,27 ha, nằm ở vùng hữu ngạn sông Hoàng Long của huyện Gia Viễn, cách trung tâm huyện Gia Viễn7km về.
Phía Tây xã Gia Phong giáp xã Gia Minh- Gia Viễn và xã Thanh Lạc- 'Nho quan. Phía Bắc giáp xã Gia Lạc - Gia Viễn. Phía Nam giáp xã Sơn Lai, Sơn Thành - Nho Quan. Phía Đông giáp xã Gia Sinh - Gia Viễn.
Phía Nam và phía Đông Gia Phong là một con sông bắt nguồn từ Rịa- Nho Quan, xuôi dòng qua xã Sơn Lai, đỗ xuống làm thành biên giới tự nhiên giữa Gia Phong với xã Sơn Lai ở phía Nam và biên giới Gia Phong với Gia Sinh ở phía Đông, rồi đỗ ra Âu Lê, nhập vào sông Hoàng Long. Gia Phong có tuyến đường 477C chạy từ Huyện ly Gia Viễn, qua cầu Đồng chưa vào xã Gia Lạc, thẳng tới dọc xã Gia Phong với chiều dài thuộc đất Gia Phong 2 873m, vượt qua cầu Lỗi Sơn sang. xã Sơn Lai, nối với ngã ba đường Anh Trỗi, nhánh phía Đông xuôi xuống Bái Đính, Trường Yên, nhánh phía Nam tới đường 59, có thể di Tam Điệp, Cúc phương thuận tiện. Đất Gia Phong cổ xưa vào thời Hùng Vương thuộc đất Nam Giao.
Thời nhà Tần thuộc đất Tương Quận. Thời Hán thuộc Quận Giao. Đến đời Tắn, đời Lương thuộc đất Giao Châu [5, tr3]. " ~ Năm 669 (đời Đường), đắt Gia Phong thuộc huyện Nhu Viễn sau đổi thành Uy Viễn.
Thời Đinh Lê (968-1009) Gia Phong trong vùng kinh đô của nước Đại Cô Việt. Thời Lý, đất Gia Phong thuộc phủ Trường Yên. Đến thời Trần, dat Gia. Phong thuộc đất huyện Lê Gia.
Đến thời Lê, hai huyện Lê Gia và Uy Viễn hợp làm một là huyện Gia Viễn cho tới nay. Thời Nguyễn, xã Gia Phong, thuộc tổng Vân Trình là tổng lớn của huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên. Từ cách mạng thành công năm 1945 xã Gia Phong hợp nhất với xã Ngọc Động thành xã Hùng Uy thuộc Huyện Gia Viễn. Năm 1949 xã Hùng Uy hợp nhất với xã Gia Minh (có cả Gia Lạc) thành xã Gia Phong.
Năm 1953 xã Gia Phong hợp nhất tách ra thành xã Gia Minh, xã Gia Lạc và xã Gia Phong (vốn là xã Hùng Uy). Tên xã Gia Phong tổn tại cho đến ngày nay. Nam 1977 huyện Gia Viễn sát nhập với huyện Nho Quan thành huyện Hoàng Long. Tháng 4/1981 chia huyện Hoàng Long thành huyện Hoàng Long và huyện Gia Viễn.
Huyện Gia Viễn khi đó có 20 xã trong đó có xã Gia Phong [26] Đến năm 2008 Gia Phong là một trong 147 xã, phường, thị trấn của. Tinh Ninh Binh, I trong 21 xã, thi tran của huyện Gia Viễn với diện tích tự nhiên 555,27 ha, dân số 4. Điều kiện tự nhiên ~ Địa hình : Xã Gia Phong có địa hình tương đối bằng phẳng, hai phần 'ba diện tích đồng Chiêm trũng, một phần ba Đồng Rộc. Trong bình đỏ cấu trúc địa chất miền Bắc Việt Nam vùng đất Gia Phong nằm trong địa võng chìm, có cấu trúc phức tạp.
Phản tầng dưới có. chiều sâu tới 2000m gồm cát, bột kết, đá phiến sét, cát kết màu xám, màu đen, 12 phớt lục, màu đỏ. Chuyển lên trên là đá sét, vôi, bột kết vôi, có nhiéu nép léi, nếp lõm không hoàn chỉnh, có nguồn gốc sông, đằm lầy, lòng chảo, phủ sa chưa lắp day tạo thành ruộng chiêm trũng [5]. Dưới vùng đất Gia Phong có nước ngầm, do vậy nhân dân đã đào giếng.
khai thác được mạch nước có chất lượng tốt. Tuy vậy, nước ngầm nông này. cần phải qua xử lý mới đảm bảo nước sạch, bởi lẽ nước ngằm nông thường bị nhiễm mặn 240mgílít, nồng độ sắt cao 18mgílít, số lượng conifom cao, nhiễm. sắt nặng [5] ‘Vang dit Gia Phong xưa là vùng đồng chiêm trũng, đến tháng 7 tháng.
8 âm lịch hàng năm nước lũ từ trên nguồn tràn về ngập cả xóm làng.để chống lụt và ngập úng, qua các giai đoạn lịch sử các con dé được xây dựng để ngăn nước lũ. Mỗi mùa mưa nước lũ rút để lại một lớp phù sa màu mỡ, tôm, cua và cá ở lại trong các con mương, ao hồ, đây là nguồn thủy sản góp. phần cải thiện sinh hoạt của nhân dân trong vùng. ~ Thủy văn: Gia Phong chịu ảnh hưởng lớn của sông Hoàng Long, nhánh.
lớn nhất của sông Đáy, do bồn chỉ lưu hợp thành là sông Bôi, sông Đập, sông. Lạng, sông Rịa. Độ dốc của các sông khá cao, do vậy lũ xuống rất nhanh. Dòng chảy sông Hoàng Long chịu ảnh hưởng của dòng chảy sông Đáy.
'Vùng cửa sông Đáy chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều vịnh Bắc Bộ. Những, khi mưa bão vùng Ninh Bình, gặp thủy triều lên cao, đòng chảy sông Hoàng. Long bị tắc nghẽn tại Gián khẩu, đẩy dòng Hoàng Long nước dâng cao. Theo thống kê 38 năm (1960-1997) các năm 1968, 1971, 1978, 1985, 1994, 1996 vùng Gia Phong và cả tỉnh Ninh Bình đã sảy ra lũ lụt gây úng nghiêm trọng, có khi vỡ đê, điển hình là năm 1985 nước tại bến Đề sông Hoàng Long dâng cao.
5,46m, đê hữu ngạn Hoàng Long khi đó bị nhút sâu 0,5m, đê tả ngạn Hoang Long bị vỡ ở Gia Trung. Vùng Gia Viễn, Nho Quan bị lụt lớn chưa từng có. 13 ‘Nam 2007, các xã Gia Phong, ia Lac, Gia Minh lại lần nữa chịu một trận lụt lớn, ảnh hưởng lớn đời sống kinh tế, vụ mùa của người dân [5] ~ Khí hậu: Xã Gia Phong mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của vùng khí hậu Đông Bắc. Thời tiết trong năm chia.
làm 4 mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ không khí trung bình năm 25°C ~ 29°C, nhiệt độ trung bình cao nhat 38°C, nhiệt độ trung bình thấp nhất 12°C. Độ ẩm không khí tương đối cao trung bình trong năm từ 80 ~ 90%, số giờ nắng trong nam trung binh 1.800 giờ/ năm, lượng mưa trung bình trong. Trong năm, lượng mưa phân bố.
không đều, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tháng mưa ít nhất là tháng 12. Hàng năm, có từ 5 — 7 cơn bão ảnh hưởng đến địa bàn xã, chủ yếu ảnh hương gây mưa lớn thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp [17, tr3]. Hướng gió hàng năm thịnh hành là Đông bắc và Đông nam. Gió mùa Đông bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm, gây mưa rào.
'Nhìn chung, với địa hình và thời tiết của vùng trung du miễn núi nên canh tác cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa ảnh hưởng lớn tới nông nghiệp toàn xã. Dân cư và đời sống kinh tế 1. Thành phần đân cự. Năm 2010, dân số xã Gia Phong là 4.087 người, với 1.124 hộ dân, đều là dân tộc Kinh, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,0%, tỷ lệ tăng cơ học ở 0,2%, Trên địa bàn xã có 5 cụm dân cư tập trung và 7 cụm nhỏ nằm rải rác.
Tổng số dân trong độ tuổi lao động của xã là 1.656 người/ tổng số dân, chiếm. 14 38,94% dân số trong toàn xã. Nhìn chung lực lượng lao động trong xã làm nông nghiệp là chính, ngoài ra còn một số ít tham gia làm tại các khu công nghiệp trên địa bản huyện. Đặc điểm nổi bật của cư dân Gia Phong đến cư trú thời kỳ tiền sử cách đây hơn 600 năm hầu hết là những người có trí lớn về vùng xa xôi hẻo lãnh.
này dn đật, chờ thời cơ thực hiện ý chí. Ở làng Lỗi Sơn theo sự cung cấp của các vị trưởng ban chấp hành các dòng họ và các bô lão, thì các dòng họ đến sớm là họ Đặng, họ Trần (ông, 'Vượng), họ Đỉnh, họ Quách, họ Trương, sau đó là họ Lê, họ Chu, họ Đoàn, họ Phạm, họ Dương, họ Vũ. hầu hết đã mấy trăm năm lịch sử. Ở làng Ngọc Động người đến cư trú đầu tiên khi vùng đất còn hoang sơ.
là 2 gia đình cụ Phạm Chòm, Định Thống về ở ẩn vào cuối đời nhà Hồ (1406- 1407) lập nên làng, dân vùng xung quanh gọi là làng Chòm. Nối tiếp, vào. năm 1455 cụ Bùi Chân Tĩnh dòng dõi tướng lĩnh từ La Mai - Gia Khánh tới lập ấp. Họ Bùi tại đây phát triển mạnh mẽ về trí tuệ.
Năm 1470 vua Lê Thánh Tông hiệu Hồng Đức vời bà Bùi Thị Ngọc Cung, Bùi Thị Ngọc Nhan làm cung phi, đặt tên chữ cho làng Chòm là làng Ngọc Đông, nâng lên thành xã Ngọc Động có 2 thôn Thượng và thôn Hạ. Năm 1555 cụ Tổ họ Đinh Huy đến cư trú tại thôn Ngọc Thượng. Nối tiếp mấy thế kỷ sau, họ Trần thôn hạ là vị tuần tổng từ Bát Tràng vào. Họ Nguyễn Ngọc từ Hành thiện - Nam Định chạy.
giặc vào cư trú. Tới nay làng Ngọc Động có 02 họ Đỉnh, 03 họ Trần, 02 họ Lê, 04 họ Nguyễn, 01 họ Mai, 01 họ Hoàng. Cư dân xã Gia Phong xưa và nay mặc dù còn vắt vả trong cuộc mưu sinh, cuộc sống nghèo khó nhưng vẫn cố gắng cho con học chữ để làm người. Gia Phong tự hào là miền quê có truyền thống hiểu học.
Từ cuối thế kỷ 15 và thế kỷ. 16 họ Bùi làng Ngọc Thượng đã nỗi tiếng “Tụ thần tỉnh” trong triều đại nhà Hậu 15 Lê họ Bùi có đến bồn, năm đời liên tiếp có người học giỏi đỗ cao trở thành đại quan của triều đình. Đó là Văn Hoài Quốc Công - có con là tiến sỹ Bùi Khám. “Trạch han lâm dai học sỹ; có cụ Bùi Thái Nhạc khâm thiên phó đoán quốc sự; có cụ Bùi Ức giám sinh quốc tử giám; có cụ ngh Duệ Chí sinh ra Huân Tướng Chiêu Duyên, Huân Tướng Phần Nghĩa và quan Quảng Vũ Hầu Bùi Diễn Văn.
Ho Lé Ngọc Thượng có Lê Triều chỉ huy sứ. Họ Đinh Huy Ngọc Động có Huyện thừa Phương Trực sinh ra hàn lâm đại học sỹ Đinh Huy Đạo. Họ Trần (Danh Động) có liên triều tướng quân ‘Tran Huy Hiéu [5] Ở Thôn Lỗi Sơn có quan triều Trương Khắc Tiên, tiến sỹ Chu Khắc KẾ, tiến sỹ Chu Khắc Thiệu. Hai vị tiến sỹ đã được nhà vua phong sắc [5].
Gia Phong xưa trong thời hán học thịnh vượng, ở mỗi làng đều có rất su thày dạy chữ nho. Ở Lỗi Sơn tiêu biểu là cụ Đồ Bạt.