Tổng quan nghiên cứu

Hương Khê là huyện miền núi có diện tích tự nhiên rộng nhất tỉnh Hà Tĩnh với hơn 77% diện tích là đất lâm nghiệp rừng đại ngàn, đồng thời sở hữu đường biên giới dài 50,2 km tiếp giáp trực tiếp với tỉnh Khăm Muộn thuộc nước bạn Lào. Nơi đây lưu giữ quần thể di tích lịch sử cấp quốc gia được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức công nhận và xếp hạng từ năm 2001, trong đó ngôi đền Trầm Lâm tọa lạc tại xã Phú Gia nổi bật với lịch sử khởi dựng lâu đời từ thế kỷ XIV (năm Hồng Vũ thứ 3 tức năm 1370 theo ghi chép trong Sách Lễ chí nhà Minh). Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng nhiều giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tại địa phương đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, mai một nghiêm trọng do tác động khắc nghiệt của thời tiết và thời gian sau hơn 200 năm lịch sử, trong khi các công trình trước đây chỉ dừng lại ở việc lược khảo sự kiện riêng lẻ. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa một cách toàn diện các giá trị kiến trúc cổ, nghệ thuật điêu khắc dân gian, kho tàng 37 đạo sắc phong và hệ thống bảo vật triều đình thời phong kiến, đồng thời làm sáng tỏ chiều sâu tâm linh cùng chức năng cố kết cộng đồng của lễ hội đền Trầm Lâm. Phạm vi không gian nghiên cứu được định vị trọng tâm tại xã Phú Gia cùng các địa bàn lân cận thuộc huyện Hương Khê trong khung niên đại từ năm 1885 (thời điểm vua Hàm Nghi ban Hịch Cần Vương) đến các đợt điền dã thực tế từ năm 2009 đến năm 2015. Ý nghĩa nghiên cứu mang tính ứng dụng cao khi cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn giúp gia tăng 100% độ chuẩn xác cho công tác kiểm kê di sản, bảo tồn nguyên gốc diện tích gần 50 m2 của tòa Thượng Điện và định hướng chiến lược phát triển du lịch văn hóa bền vững cho 100% cư dân bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng trong văn hóa học nhằm phân tích mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố kiến trúc đền đài với đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng cư dân vùng biên ải. Song song đó, lý thuyết tiếp biến văn hóa và lý thuyết biểu tượng tôn giáo được tích hợp chặt chẽ để lý giải sự dung hợp nhuần nhuyễn giữa tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa với Đạo giáo, Nho giáo và tín ngưỡng thờ thần hộ quốc. Mô hình nghiên cứu tiếp cận di sản theo hướng chỉnh thể, đặt không gian di tích vật thể và diễn trình lễ hội phi vật thể trong một hệ sinh thái văn hóa thống nhất. Các khái niệm nền tảng được thao tác hóa xuyên suốt bao gồm: di tích lịch sử - văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn, diễn xướng nghệ thuật dân gian và thiết chế làng xã truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình được tổng hợp từ nguồn thư tịch cổ Hán Nôm (như sách Đại Nam nhất thống chí, Lễ chí nhà Minh, hòm tư liệu Quy Hợp giai đoạn 1619 - 1880) kết hợp với các báo cáo điều tra và khai quật khảo cổ học năm 2009 của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% hiện vật hiện hữu tại di tích (gồm 2 tượng voi vàng, 1 tượng voi đồng, 1 nghê đồng mạ vàng, 2 thanh kiếm lệnh, 35 chuông lục lạc đồng và 37 đạo sắc phong gốc), đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu 15 cá nhân gồm các bô lão, cố đạo chủ và nghệ nhân dân gian xã Phú Gia theo phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành giữa Văn hóa học, Lịch sử học, Điền dã dân tộc học và Bảo tàng học là vì lễ hội mang tính nguyên hợp sống động, đòi hỏi phải khảo sát trực tiếp trong môi trường diễn xướng để thu thập dữ liệu khách quan nhất. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt qua đợt khảo sát lập hồ sơ di tích tháng 5 năm 2000, đợt khai quật khảo cổ tháng 9 năm 2009 và các đợt điền dã hoàn thiện dữ liệu trong năm 2014 - 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ cấu trúc kiến trúc nghệ thuật độc đáo của tòa Thượng Điện với quy mô diện tích gần 50 m2, cao 4,9 m, dài 8,8 m, kết cấu 14 cột gỗ lim đường kính 300 mm dựng trên chân tảng đá xanh đường kính 210 mm, hệ mái dốc lợp ngói Di đạt mật độ 150 viên/m2 và lưu giữ 100% kỹ thuật ghép ván gỗ đố lụa truyền thống. Thứ hai, tác giả phân loại và lập hồ sơ khoa học cho bộ sưu tập hiện vật độc bản gồm 37 đạo sắc phong qua các triều vua phong kiến, 2 tượng voi vàng, 1 tượng voi đồng, 2 thanh bảo kiếm và 35 lục lạc đồng do vua Hàm Nghi ban tặng ngày 25 tháng 9 năm 1885, khẳng định 100% báu vật vẫn được bảo tồn nguyên vẹn nhờ cơ chế luân chuyển Cố đạo chủ. Thứ ba, lễ hội mồng 7 tháng Giêng được xác định là không gian văn hóa đa tầng kết nối 3 điểm di tích liên hoàn, lưu giữ trọn vẹn 7 điệu hát Sắc bùa cổ truyền và thu hút hơn 90% hộ gia đình trong xã tham gia thực hành nghi lễ.

Thảo luận kết quả

Sự trường tồn của di tích và cổ vật đền Trầm Lâm qua hàng thế kỷ bắt nguồn từ vị thế địa lý được bao bọc bởi dãy núi Giăng Màn dài 50,2 km cùng niềm tin tâm linh bất hoại của cư dân địa phương đối với quyền năng của Đức Thánh Mẫu. Khác với mô hình thờ Mẫu Tam Phủ - Tứ Phủ phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ, tín ngưỡng thờ Mẫu tại đền Trầm Lâm mang đặc trưng của Mẫu Thượng Ngàn gắn với rừng thiêng, đồng thời tích hợp sâu sắc với chủ nghĩa yêu nước của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX. Nguồn dữ liệu kiểm kê di vật và quy trình nghi lễ có thể được trực quan hóa mạch lạc thông qua một bảng tổng hợp đối sánh 37 đạo sắc phong theo niên đại lịch sử và một biểu đồ luân chuyển không gian qua 4 giai đoạn nghi thức chính diễn ra trong ngày mồng 7 tháng Giêng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tiến hành số hóa 100% hệ thống tư liệu 37 đạo sắc phong, văn tự Hán Nôm và quét 3D toàn bộ báu vật hoàng gia trước quý 4 năm 2026, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Tĩnh chủ trì thực hiện nhằm tạo kho lưu trữ số bảo mật cao.

Thứ hai, quy hoạch mở rộng không gian vùng đệm lễ hội tăng thêm 1,5 lần so với diện tích mặt bằng 2.100 m2 hiện tại, giúp giảm 40% áp lực quá tải khách hành hương trong dịp khai hạ đầu xuân giai đoạn 2026 - 2028 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân huyện Hương Khê.

Thứ ba, phục dựng và bảo tồn nghệ thuật diễn xướng dân gian thông qua việc tổ chức các lớp truyền dạy 7 làn điệu hát Sắc bùa cổ, bảo đảm chỉ tiêu đào tạo tối thiểu 50 học viên trẻ mỗi năm, do Phòng Văn hóa - Thông tin huyện phối hợp cùng các nghệ nhân cao niên xã Phú Gia triển khai bắt đầu từ năm 2026.

Thứ tư, thiết lập tour du lịch di sản lịch sử kết nối cụm di tích Thành Sơn Phòng - Đền Trầm Lâm - Đền Công Đồng, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng 25% lượng khách tham quan mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2030, do Ủy ban nhân dân xã Phú Gia phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, dân tộc học và lịch sử học, có thể khai thác nguồn tư liệu gốc gồm 37 đạo sắc phong và 7 bài hát Sắc bùa cổ làm cơ sở dữ liệu đối sánh văn hóa tín ngưỡng vùng biên giới.

Nhóm thứ hai là cán bộ quản lý văn hóa tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh cùng chính quyền địa phương, sử dụng các giải pháp bảo tồn nguyên trạng kiến trúc 50 m2 và cơ chế Cố đạo chủ để lập hồ sơ đề nghị công nhận Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Nhóm thứ ba là giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Văn hóa học, Lịch sử học, Bảo tàng học, vận dụng luận văn như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điền dã liên ngành tại 1 quần thể di tích lịch sử cấp quốc gia.

Nhóm thứ tư là các nhà hoạch định chiến lược du lịch và công ty lữ hành, khai thác các giá trị lễ hội ngày mồng 7 tháng Giêng để phát triển tour du lịch văn hóa tâm linh độc đáo dọc 50,2 km vùng biên cương Việt - Lào.

Câu hỏi thường gặp

Đền Trầm Lâm có nguồn gốc hình thành từ giai đoạn nào trong lịch sử? Đền Trầm Lâm được khởi dựng từ thế kỷ XIV. Sách Lễ chí nhà Minh ghi nhận năm Hồng Vũ thứ 3 (năm 1370), vua Thái Tổ nhà Minh đã sai sứ sang tế tại đền vì nơi đây là một trong 6 ngọn nước danh tiếng của An Nam. Đến năm 1885 và năm 2009, di tích tiếp tục được trùng tu, tôn tạo quy mô lớn.

Vua Hàm Nghi đã ban tặng những bảo vật quý giá nào cho đền Trầm Lâm? Vào ngày 25 tháng 9 năm 1885, sau khi được Đức Thánh Mẫu báo mộng lánh nạn, vua Hàm Nghi đã trao tặng đền 2 tượng voi vàng, 1 tượng voi đồng, 1 nghê đồng mạ vàng, 2 thanh kiếm thần bọc đồng dát bạc, 35 quả chuông lục lạc đồng, hoàng bào cùng 37 đạo sắc phong quý giá.

Thiết chế Cố đạo chủ tại xã Phú Gia vận hành ra sao để bảo vệ cổ vật? Cố đạo chủ là người cao niên có uy tín được cộng đồng bầu chọn hàng năm để gìn giữ các bảo vật vua ban tại nhà riêng. Hàng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng, làng tổ chức lễ rước báu vật long trọng chuyển giao cho Cố đạo chủ mới, bảo đảm an toàn 100% suốt hơn 200 năm qua.

Điểm độc đáo của lễ hội đền Trầm Lâm so với các lễ hội thờ Mẫu khác là gì? Lễ hội tích hợp đa tầng giữa tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn với phong trào yêu nước Cần Vương của vua Hàm Nghi. Không gian thực hành nghi lễ diễn ra liên hoàn qua 3 di tích là đền Trầm Lâm, đền Công Đồng và đền Hàm Nghi kết hợp lễ khai hạ mở cửa rừng đầu năm độc nhất vô nhị.

Nghệ thuật hát Sắc bùa trong lễ hội đền Trầm Lâm có vai trò như thế nào? Hát Sắc bùa gồm 7 làn điệu cổ truyền như Mở ngõ, Khai môn, Rước xuân, Trừ tà, Chúc nghề làm ruộng, Chúc nghề thợ hồ và Đi ra. Đây là nghi thức diễn xướng dân gian mang ý nghĩa trừ tà khai xuân, cầu mong mưa thuận gió hòa và ấm no cho 100% cư dân nông nghiệp vùng đất Phú Gia.

Kết luận

  • Hệ thống hóa lịch sử khởi dựng từ năm 1370 và xác định giá trị kiến trúc Thượng Điện diện tích gần 50 m2 bằng gỗ lim quý hiếm.
  • Đánh giá toàn diện giá trị lịch sử của 37 đạo sắc phong cùng kho tàng bảo vật do vua Hàm Nghi ban tặng ngày 25 tháng 9 năm 1885.
  • Giải mã tính đa tầng của lễ hội mồng 7 tháng Giêng trong việc kết hợp tín ngưỡng thờ Mẫu với phong trào yêu nước Cần Vương.
  • Khẳng định vai trò đặc biệt của thiết chế Cố đạo chủ giúp bảo toàn 100% báu vật hoàng triều qua hơn 200 năm lịch sử biến động.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn với mục tiêu tăng trưởng 25% lượng khách du lịch di sản trong giai đoạn 2026 - 2030.

Đóng góp cốt lõi của luận văn là công trình chuyên khảo toàn diện đầu tiên về di tích và lễ hội đền Trầm Lâm, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho công tác bảo tồn di sản vùng biên giới Hương Khê. Kế hoạch hành động giai đoạn 2026 - 2028 cần tập trung số hóa tư liệu và hoàn thiện hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Hãy tham khảo và trích dẫn công trình này ngay hôm nay để làm phong phú nguồn tư liệu học thuật về văn hóa học và lịch sử dân tộc.