Chương 1: Tổng quan về huyện Hương Khê và đền Trầm Lâm Chương 2: Di tích đền Trầm Lâm Chương 3: Lễ hội đền Trầm Lâm 13 Chuong 1 TONG QUAN VE HUYEN HUONG KHE VA DEN TRAM LAM 1. Khai quat vé huyén Huong Khé 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Hương Khê là huyện miễn núi giáp với nước bạn Lào, có vị trí quan trọng trong tỉnh Hà Tĩnh và cả nước. Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài đã hình thành nên một vùng đất Hương Khê “địa linh nhân kiệt”, giàu truyền thống văn hóa.
Huyện Hương Khê nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hà Tĩnh, phía Bắc giáp huyện Đức Thọ và huyện Hương Sơn, phía Đông giáp huyện Thạch Hà và huyện Can Lộc, phía Đông Nam giáp huyện Cẩm Xuyên, phía Nam giáp huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, phía Tây Nam giáp tỉnh Khăm Muộn, Lào, ngăn cách bởi núi Giăng Màn thuộc dãy Trường Sơn. Nam 2000, Huong Khê tách 5 xã: Quang, Minh, Điền, Đại, Thọ về huyện 'Vũ Quang. Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 1. Hương Khê hiện nay vẫn là huyện có diện tích rộng nhất tỉnh Hà Tĩnh.
Hương Khê có một đường biên giới dài 50,2 km giáp với tỉnh Khăm Muộn, Lào. Đồn Quy Hợp xưa kia được xem là cửa ải bang giao của hai nước. Từ bao đời nay nhân dân hai bên biên giới nương tựa vào nhau để sinh sống. Hiện nay các thư từ giao dịch từ năm 1619 đến năm 1880 vẫn còn được lưu trữ tại hòm tư liệu Quy Hợp.
'Về địa hình, toàn huyện nằm gọn trong một thung lũng hình lòng máng của hai dãy núi Trường Sơn và Trà Sơn. Núi Trường Sơn người trong vùng quen gọi là núi Giãng Màn là đãy núi lớn nhất, dài nhất của huyện Hương Khê với vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ. Núi Trường Sơn bao bọc toàn bộ huyện Hương Khê về phía Tây như một bức tường thành. Sách Đại Nam nhất thống 14 chí mô tả núi này như là danh sơn, là trung tâm xuất phát của các mạch núi nhánh khác của Nghệ Tĩnh.
Giữa các mạch núi là những tằng thác hùng vĩ đỗ ra sông, trong đó phải nói đến thác Vũ Môn. Câu chuyện các chép hóa rồng không biết có từ đời nào nhưng sách Đại Nam nhất thống chí đã ghỉ lại về núi này như sau: “Tương truyền hằng năm, cứ đến ngày Tám tháng Từ, cá chép vượt suối này và con nào vượt được thì hỏa rằng. Phường chài thường bảo nhau mấy ngày trước không búa chài lưới, đúng ngà) y thì chỗ này mây mù dây ặc, không ai dám đến gai [13,t. Người trong vùng còn lưu truyền câu ca đao: lồng tám tháng tư có mưa.
Cha con sắm sửa cày bừa làm ăn. Mông tám tháng tư không mưa. Cha con sắm sửa sọt sưa đi Lào”. ‘Theo tac gid Nguyễn Bá Thành chủ biên quyển “Hương Khê văn hóa danh thắng” thì: Ving đất Hương Khê xưa kia vốn có một phần thuộc huyện Thâm.
Nguyên cũ mà Ngũ man phong thổ kí đã nói đến: "Huyện Thâm. Nguyên, dân cur 36 ban (thé 4m gọi thôn là bạn), ruộng đất và khe động xen lẫn nhau, ruộng nhiều người ít, không cày cấy hết. Đường đi bốn phía: một đường vẻ phía Đông Bắc đi một ngày thì đến Dịch. Đông, trông sang núi Giăng Màn thấy có một xứ vách đá tường gạch và nhà ngói, màu đỏ màu trắng xen nhau, tục gọi là “Thần phá đảng”, ai đi qua đấy cũng phải kinh sợ không dám trông lên”.
nay đi lên thác Vũ Môn thì quả nhiên rất “kinh sợ” vì vẻ hoang dã thâm nghiêm của công trình thiên tạo ấy [43, tr.9] Huong Khê có địa hình nhiều đôi núi nhấp nhô lượn sóng, xen giữa gò. đồi là đồng ruộng bậc thang. Độ dốc thoải dần từ Nam ra Bắc, cho nên dòng sông Ngàn Sâu chảy theo hướng ra Bắc của thung lũng đóng khung giữ hai dãy Trường Sơn và Trà Sơn. Có thể nói đó là con sông duy nhất để thoát nước.
Huyện có lượng mưa cao, cường độ mưa lớn. 15 hàng năm nằm trong khoảng từ 1. Trién nai dốc, lòng hẹp. lại uốn khúc quanh co nên mùa mưa dễ gây ra lụt lớn trong vùng.
Ngược lại, về mùa khô, sông cạn, bờ cao, độ dốc lớn, đồng ruộng bị khô hạn, chia cắt do địa hình không bằng phẳng. Do có nhiều khe suối và các sông chảy xiết, nên Hương Khê chia thành các lưu vực khác nhau. Ngoài sông chính là Ngàn Sâu, các con sông nhánh cũng tạo thành các lưu vực riêng biệt như lưu vực Ngàn Trươi, lưu vực sông Tiêm, lưu vực Rào Nỗ. Khi tách riêng lưu vực Ngàn Trươi ra (chia về huyện 'Vũ Quang) thì thung lũng Hương Khê còn lại là một hình bầu dục, hai đầu co.
lại ở Hương Trạch (thượng huyện) và Cita Rao (ha huyện), 'Về địa chất thổ nhưỡng, có thể chia thành hai nhóm đất: nhóm đất đồi núi và nhóm đất đồng bằng, thung lũng. Trong đó nhóm đắt đồi núi chiếm phần lớn. Đất đồi núi có loại đất phe-ra-lit trên núi cao (Trường Sơn, Trà Sơn từ 200m trở. Đất phe-ra-lit được phát triển chủ yếu trên đá granit có cấu trúc nham thạch bằng các hạt silic cát và sét.
Phong hóa đất khô, chua, nghèo chất dinh dưỡng. Nhóm đất đồng bằng và thung lũng (đất có thể làm ruộng) thường nghèo chất dinh dưỡng, lại thiếu nước, cho nên về mùa hạn đất khô, đặc biệt là loại đất sét thì quánh và cứng như đá. Vì vậy đối với người dân Hương Khê cũng như một số huyện miền núi khác ở Nghệ Tĩnh, việc làm đất trồng màu là rất gian nan. Lớp đất màu bề mặt thường rất mỏng (trên dưới 20cm), có màu xám, sau đó là lớp đất đỏ cấu trúc nham thạch có độ dẻo, dính rất cao.
VỀ mùa mưa rét nếu đi trên những con đường đắt mới sẽ rắt khó khăn vì độ trơn và bám dính của đất rất mạnh. Loại đắt này có thê sử dụng vào công nghiệp gạch ngói, sành sứ rất tốt. Nhìn chung, đất đai ở Hương Khê có nhiều loại, thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau, nhưng hợp nhất là các loại rau màu, cây ăn quả, cây lưu niên và cây công nghiệp, điển hình là cây ăn quả như bưởi, cam, mít, trong đó bưởi Phúc “Trạch ngon nỗi tiếng, có giá trị xuất khẩu cao 16 Hương Khê là huyện miền núi, vừa có đất trống đồi trọc, vừa có những khu rừng đại ngàn với nhiều loại thực vật phong phú. Trong tổng diện tích của toàn huyện, dat rừng chiếm tới 77%.
Đắt nông nghiệp chỉ chiếm diện tích nhỏ và còn có nhiều khả năng khai khẩn để mở rộng. Khí hậu Hương Khê là vùng khí hậu gió mùa rất rõ nét. Gió Đông — Bắc thổi từ tháng 9 đến tháng 2 mang theo mưa rét. Gió Tây Nam, miễn Trung còn gọi là gió Lào, gió này thổi từ tháng 4 đến tháng 8, có khi sớm hoặc muộn hơn làm cho không khí luôn khô nóng và oï bức.
Gió Lào là một trong những nhân tố tạo nên sự khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết ở Hương Khê. Sách “Địa dư tỉnh Hà Tĩnh” đã nói rõ sự thay đổi thời tiết của Hương. Khê như sau: Tháng 2, tháng 3, mùa xuân, khí trời còn rét. Tháng 4, tháng 5, mùa hè nắng to, oï bức khó chịu.
Tháng 7, tháng 8, mùa thu thì thường có gió lạnh, mưa nl éu, nude lũ dâng cao ngập ruộng đồng, hoa màu bị thiệt hại. Tháng 10 đến tháng 12, khí trời rất rét, là nguyên nhân gây bệnh làm chết nhiều gia cằm, gia súc [27, tr.15] Tải nguyên thiên nhiên ở Hương Khê trước hết là lâm, thổ sản. Hương Khê có nhiều loại gỗ quý từ loại tứ thiết như đỉnh, lim, sến, táu đến các loại vàng tâm, pơmu, trằm, gụ, tre nứa, song mây. Động vật hoang dã vẫn còn nhiều từ hỗ, voi, khi, hươu, nai, lợn rừng, trăn, rắn, kỳ nhông, kỳ đà, và động vật quý như sao la, sơn dương, bò tót.
Ngoài ra còn có nhiều cây thuốc. nam mọc tự nhiên ở trong rừng núi. Khoáng sản ở Hương Khê có sắt ở Chu Lễ và Thổ Hoàng, nhưng trữ lượng nhỏ. Ở hai xã Phúc Đồng và Hà Linh ngày nay đã tìm thấy than đá.
than Động Đỏ được phát hiện vào năm 1982, có tông diện tích 36km2, nằm. trên địa phận các xã Hà Linh, Hương Thủy „ Hương Giang. Trữ lượng ban đầu ước tinh từ 6 đến § triệu 21 Trạch là hoa hậu Bưởi của Đông Dương”, là đặc sản nỗi tiếng trong toàn quốc. Bưởi đã chiếm vị thé quan trọng trong nguồn thu nhập của người dân.
Mấy năm gần đây xuất hiện nhiều tỷ phú gió trầm. Một mô hình trang trại trồng gió lấy trầm mới đã được hình thành. Người dân ở đây vẫn có câu “Nhất mẫu trạch bằng bách mẫu điền”, nghĩa là thu nhập trong một mẫu vườn có giá trị bằng trăm mẫu ruộng là vậy. Người dân sống dựa chủ yếu vào đất vườn nhà mình.
Bởi vậy dù có nắng hạn, thiên tai, mắt mùa lúa thì vẫn còn hoa lợi, lâm lợi như cam bưởi, cau, chè, lá cọ, nứa, gió, cao su. Người trong vùng vẫn truyền nhau câu nói phản ánh mối quan hệ được, mắt giữa mùa vườn và mùa ruộng là: “Được mùa cau, đau mùa lúa. Được mùa lúa úa mùa cau”. Đó cũng là quy luật bù trừ, đắp đổi thể hiện trong đời sống nói chung, Nhìn chung, bộ mặt kinh tế của huyện đang có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân trong huyện.
Đời sống văn hóa, tín ngưỡng Người Hương Khê đa số không theo tôn giáo. Nói về tôn giáo thì Thiên chúa giáo là khá bài bản. Hiện nay Hương Khê là huyện có tín đồ theo đạo Thiên chúa tương đối đông, chiếm khoảng một phần tư dân số toàn huyện. Thiên chúa giáo ở Hương Khê có từ rất sớm, nằm trong hạt Ngàn Sâu.
Nhà thờ Thổ Hoàng và nhà thờ Làng Truông được thành lập từ năm 1865. Nhà thờ Thổ Hoàng nằm trong địa phận xã Phương Mỹ, hiện nay gồm 7 họ đạo. Nhà thờ Làng Truông nằm ở xã Hương Giang, gồm 11 xứ và 1 sở đạo. Những xã có giáo dân đông nhất là Phương Mỹ, Hương Long, Gia Phó.
Hiện nay, ở Hương khê có 12 xứ, 60 họ và khoảng 59 nhà thờ trong đó có 12 nhà thờ xứ. huyện, 47 nhà thờ họ với khoảng 26.000 giáo dân (2007) so với con số 5 triệu tín đồ công giáo trong cả nước thì tỷ lệ giáo dân ở Hương Khê cao gấp 4 lần. Xã có 7 nhà thờ như Phương Mỹ, xã có 5 nhà thờ như Gia Phố, Hương Trạch.