Chương 1: Đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá trong không gian xã Sơn Thịnh Chương2: Giá trị văn hóa nghệ thuật của đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá Chương3: Bảo tồn và phát huy giá trị dĩ tích đền Bạch Vân và chùa Thịnh Xá. ChươngI ĐÈN BẠCH VÂN VÀ CHÙA THỊNH XÁ 'TRONG KHÔNG GIAN XÃ SƠN THỊNH 1. Lược khảo xã Sơn Thịnh 1. Vị trí đi Xã Sơn Thịnh trước Cách mạng Tháng Tám năm 194 thuộc hai thon/ling Thịnh Xá và Văn Giang, tổng Yên Áp, huyện Hương Sơn, tinh Ha Tinh hợp thành.
Phía đông bắc giáp xã Nam Kim (huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), phía nam giáp xã Sơn Hà, Sơn Mỹ, phía đông Nam giáp xã Sơn Tân, phía tây giáp xa Son Ninh [38,tr 634]. Cảnh quan môi trường. Sơn Thịnh là mảnh đất “dia linh nhân kiệt”, có diện tích 455 ha. quan môi trường khá đa dạng bao gồm cả đồi núi, sông ngòi và đồng bằng xen lẫn nhau.
Đứng án ngữ phía bắc là dãy núi Thiên Nhẫn điệp trùng trông như. “muôn ngya phi” (tho của Bùi Dương Lịch). Thiên Nhẫn được bao phủ bằng rừng thông bao la và một số trang trại trồng cây ăn quả, trồng màu của người dân; tiếp đó là núi Nại, một dạng đồi thoai thoải có nhiều cây bụi mọc như. trên, sim, muông.Kế đến là đồng bằng trong thung lũng núi là nơi trồng cây.
lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, lạc. Cuối cùng là đồng bằng ven sông Ngàn Phố có nhiều đất phù sa pha cát thuận tiện cho việc trồng dâu nuôi tằm, hoa màu như đậu, lạc, vừng, mía. Sông Ngàn Phố chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, bắt nguồn tir biên giới Việt ~ Lào uốn lượn như một dãi lụa, tạo thành biên giới tự nhiên giữa xã Sơn Thịnh và các xã Sơn Hà và Sơn Mỹ. Con sông này cung cấp nước ngọt phục vụ thủy lợi, đất phù sa cho cây lúa và hoa màu mỗi khi mùa lũ về, cung cấp nhiễu loại thủy sản như cá bồng, cá mát-là thức ăn cho người dân; đồng thời là đường giao thông thủy quan trọng trong quá khứ cũng như hiện tại.
Bên cạnh đó, vào mùa lụt lội nước sông dâng lên làm ngập lụt, biến cả làng mạc thành biển nước mênh mông, làm mùa màng thất bát. Đó là điều bắt lợi của chính con sông này. Theo chu kỳ, lụt lội thường xây ra vào tháng Tám âm lịch hàng năm. Cảnh quan làng mạc với cây đa bến nước sân đình, ruộng lúa, bờ đê, chợ quê với nhiều món ngon dân dã đã đi sâu vào tiềm thức biết bao người mỗi khi họ thoát ly nhớ vẻ quê cha đất tổ một thời tuổi thơ đã sống và học tập ở nơi đây.
Xa Son Thinh hiện có 3287 dân thuần Việt. Theo gia pha các dòng ho trong xã như họ Trần, họ Lê Đức, họ Lê Hữu, họ Lê Mậu, họ Hà, họ Tống Trần, thì mảnh đất xã Sơn Thịnh được hình thành chủ yếu vào khoảng thế kỷ. XVI, các dòng họ chủ yếu di cư từ các huyện của tính Nghệ An sang như họ Tống Trần, Nguyễn Khắc gốc ở huyện Nam Đàn (Nghệ An), họ Trần từ huyện 'Yên Thành (Nghệ An) đến đây khai khoang phục hóa tạo ra đền, miếu, đình, chia, nha thờ họ; các nghề thủ công nghiệp; làng mạc, ruộng, vườn cây cấy, sản xuất nông nghiệp biến vùng đắt này trở nên trù phú, cây cối tốt tươi. ‘Theo gia pha thi họ Trần xã Sơn Thịnh là hậu duệ của Trần Nguyên 'Hãn di cư sang đất Thịnh Xá vào khoảng thế kỷ XVII, đến nay đã có nhiều đời sinh sống và phát triển.
Họ cùng với nhiều dòng họ khác đã cần cù, hãng say. lao động và học tập góp phần xây dựng nên truyền thống tốt đẹp cho xã Sơn Thịnh như ngày hôm nay mà nhiều người không khỏi tự hào khi nhớ về quê cha đất tô. Dòng họ Lê cũng di cư đến làng Thịnh Xá vào thế kỷ XVII được đánh. dấu khi Tiến sĩ Lê Mậu Tài trả ấn từ quan về đây sinh cơ lập nghiệp dưới thời vua Lê chúa Trịnh.
Đến nay, đòng họ Lê ở đây có nhiều đời sinh sống và phát triển, có đóng góp công lao nhất định cho địa phương. Đời sống kinh tế Người xưa có câu: “Lắm ló (lúa) Trị Yên, lắm tiền Thịnh Xá”. Nhờ là nơi có đường giao thông thủy bộ thuận tiện, đó là sông Ngàn Phố và đường Quốc lộ 8A mà Thịnh Xá ngày xưa giàu và thịnh vượng nỗi tiếng như ý nghĩa của bản thân tên gọi của nó vậy. Nơi đây một thời là trung tâm thương mại và tiểu thủ công nghiệp của cả huyện Hương Sơn.
Sách Hương Sơn phong thổ ký có ghỉ: “.hay như Thịnh Xá có nghề buôn bán (mọi thứ hóa vật đều do người Thịnh Xá buôn bán), có sản vật lưu thông” [26,139]. Xã Sơn Thịnh trong bán kính một cây số có ba chợ: Chợ Gôi, chợ Choi, chợ Cơn Bảng lần lượt luân phiên nhau họp. Chợ có nhiều đặc sản của miền thôn quê rừng núi Hương Sơn từ lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai, sắn; thịt bò, lợn rừng, hươu, nai, trâu, bò, gà, vịt, các thức ăn bình dân như bánh nếp, bánh chưng, bánh tét, bánh đậu, bánh đúc, kẹo Cu Đơ; rồi đến song, mây, tre, nứa, gỗ các loại từ trên ngàn đồ về chất kín bờ sông. Vì là xã miền núi nên Sơn Thịnh có nghề chăn nuôi khá phát triển, ngoài trâu, bò, lợn, gà, đặc biệt phải ké dén nghé chan nuôi đê và hươu sao.
Nhiều hộ gia đình đã bỏ hàng trăm triệu đồng để phát triển đàn hươu sao lấy nhung bán để làm dược phẩm. Xa Son Thịnh ngày xưa, ngoài nông nghiệp trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi ra, còn lắm nghề thủ công truyền thống như mây tre đan, làm guốc, làm quạt, dệt mành cọ, nuôi tầm dét vai, dệt thảm, kéo tơ, làm bánh đúc, đặc biệt kẹo Cu Đơ ~ một đặc sản thơm ngon nỗi tiếng của Hà Tĩnh có nguồn gốc xã Sơn Thịnh. Những thập niên 70-80 của thế kỷ trước, hàng trăm khung cửi ở Sơn Thịnh hoạt động hết công suất tạo ra các bức thảm, mành kích thước to, nhỏ. khác nhau với nhiều hoa văn trang tri day chat my thuật xuất khâu sang các thị trường truyền thống Liên Xô và Đông Âu.
Hiện nay, các khung cửi không còn hoạt động nữa để lại sự nối tiếc cho nhiều thế hệ. Nghề mây tre đan không biết xuất hiện từ bao giờ nhưng đến nay vẫn tồn tại và được nhiều hộ dân lấy đó làm kế sinh nhai trong lúc nông nhàn nhờ. vào nguyên liệu dồi dào và có sẵn trong tự nhiên. Nguyên liệu chủ yếu là mây, tre và nứa.
Tre, nứa được mua về, chẻ nhỏ ra bó thành từng bó đường kính 40cm rồi đưa xuống ao ngâm khoảng một tháng vớt lên chẻ mỏng ra loại bỏ. muột rồi đan thành đồ dùng, vật dụng. Phần ruột được dùng đề làm chất đốt. 'Việc ngâm này có tác dụng tăng sự dẽo dai, độ bền và trừ mối mọt cho sản phẩm.
Sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt thường ngày của người dân như: mủng, dẫn, sàng, gầu dai, nống, mẹt. những sản phẩm đó được bà con chất lên thuyền hoặc gánh bộ đến khắp nơi trong tỉnh cung cấp cho người tiêu dùng. Nhờ thế mà ở Sơn Thịnh có câu thơ: Ai di cho Con Bang Nhé mua cho nang déi guéc Nhớ mua cho em vài thước lua tơ Guốc về đi nắng đi mưa Lụa về may áo chờ ngày đôi ta. Kẹo Cu Đơ, một đặc sản của Hà Tĩnh được ông Hai sản xuất tại xã Sơn.
Chiết tự từ Cu Đơ cho thấy “Cu” trong phương ngữ Nghệ Tĩnh nghĩa là đàn ông, là con trai; “Đơ” là phát âm tiếng Pháp của từ “deux” nghĩa là hai. Do ông Hai là người đầu tiên sản xuất thứ kẹo này nên người ta lấy tên ông. Việc sản xuất đặc sản này lúc đầu chỉ đáp ứng nhu cầu của các chợ: quê lân cận, sau này được phổ biển rộng ra toàn tỉnh. Hiện nay, keo Cu Do được sản xuất ra nhiều nhất là ở thành phố Hà Tĩnh chứ không phải ở Sơn.
Kẹo Cu Đơ được mọi người mua dé làm qùa quê hương khi đi xa. Keo có vị thơm bùi của lạc, vị ngọt của mật mía, vị cay của gừng. Ăn kẹo với uống nước chè xanh bằng bát thì thật thích hợp. Hiện kẹo có bán tại nhiều tỉnh thành trong cả nước.
Đo guốc cũng là một nghề thủ công có từ lâu đời của xã Sơn Thịnh. Người dân nơi đây thường đèo guốc mộc với các loại gỗ được chọn lọc kỹ. lưỡng từ trên rừng chuyển về, được cưa thành khúc với kích cỡ khác nhau thích hợp với từng giới tính và lứa tuổi. Sau đó, người ta đẽo gọt bằng tay mà không nhờ đến máy móc.
Quy mô sản xuất guốc chỉ dừng lại ở từng hộ gia đình. Sản phẩm làm ra bán rất chạy vì ngày xưa, người Việt Nam nói chung và người Thịnh Xá nói riêng không kể phụ nữ hay nam giới, trẻ hay già đều đi guốc mà không đi dép. Guốc Thịnh Xá không chỉ nôi tiếng trong vùng mà còn được xuất bán đi các huyện trong tỉnh Hà Tĩnh. Nhiều gia đình nhờ làm guốc.
mà trở nên khá giả. Nghề làm quạt giấy cũng là một nghề thủ công truyền thống của xã Sơn Thịnh. Đây là một nghề hoạt động chủ yếu vào mùa hè khi mà ở Hà Tĩnh nhiệt độ đạt đến mức cao từ 30°C đến 39°C cộng với sự khô nóng của gió Lào (gió phơn Tây Nam) thì nhu cầu sự dụng quạt cũng tăng theo. Quạt làm từ tre khô được người thợ thủ công khéo léo chẻ nhỏ vớt thành từng xương quạt, sau đó một đầu gián giấy lên với khoảng cách đều nhau, kia được cố định bằng.
chiếc đỉnh được tán đẹt hai đầu. Xương quạt thường dài khoảng 30cm, dày. Giấy làm quạt thường là loại giấy dày, có độ bền, độ dai cao. Quạt có thể được gấp đi gắp lại dễ dàng.
Người ta có thể sử dụng thuận tiện nó. Hiện nay, do đắt nước đã được điện khí hóa và mức sống nhân dân được nâng cao từ thành thị cho đến nông thôn, việc sử dụng các phương tiện làm mát như quạt điện, máy điều hòa nhiệt độ đã trở nên ngày càng phổ biến đến dụng. Ngoài là một vị tướng có tài, ông còn là người tự chế ra được khẩu súng. trường 1874 kiểu Pháp cho nghĩa quân.
Cao Thắng mắt vào năm 1893 sau khi bị trọng thương tại Rảo Nỗ [38,tr65], “Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954), xã Sơn Thịnh nằm. trong an toàn khu (ATK) kháng chiến.