Chương 1 NHẬN BIẾT DANH NHÂN GÓC NHÌN VĂN HOÁ HỌC LỊCH SỬ Trong lịch sử hào hùng của đân tộc, danh nhân nước ta đã có những, cống hiễn to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền dân tộc, mở mang bờ cõi. Lúc sinh thời, bằng các hoạt động thực tiễn sáng tạo của mình, danh nhân biểu hiện như những con chim đầu đàn, những người đi tiên phong. dẫn dắt quần chúng, cỗ vũ và phát huy tài năng cho mọi người, cùng phấn đấu cho tiến bộ xã hội và cho lợi ích chung. Khi khuất đi, nhân cách và vốn kinh nghiệm của danh nhân hoá thành ký ức xã hội, tiềm nhập vào nguồn nội lực tỉnh thần, làm bệ đỡ vững chắc cho các thế hệ nói tiếp dự phóng vẻ tương lại Lần giở lại các trang sử cũ, nhận thấy trong thời kỳ có giặc ngoại xâm đe doạ, ông cha ta thường nhắc lại những gương hy sinh lẫm liệt của các vị anh hùng, hào kiệt, để tiếp thêm sức mạnh cho thế hệ trẻ.
Các vị tướng tài trong lich sử như: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ khi cằm quân vào trận đều lấy chiến công của tổ tiên để động viên quân sĩ. Trên đường hành quân, các vị tướng lĩnh đều kính cân thắp hương tại các đền thờ danh nhân, nhận thêm sức “âm phù” “đương trợ” để giành chiến thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời khi đến thăm bộ đội cũng thường lấy. sương trung liệt của các vị anh hùng dân tộc đề giáo dục cán bộ, chiến sĩ.
Người Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung. Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng [38, tr.171-172] 16 Danh nhân, có thể là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Chẳng hạn, có thể nghiên cứu tiểu sử danh nhân, rồi tập hợp lại xây dựng thành các bộ từ điển danh nhân tổng hợp hoặc chuyên ngành; danh nhân có thể nghiên cứu theo hướng tâm lý học sáng tạo, qua đó phục vụ cho việc đảo tạo nhân tài đât nước; danh nhân có thể nghiên cứu theo hướng xã hội học, để xem cần phải xây dựng thể chế xã hội như thế nào thì thu phục được nhân tài và phát huy được tài năng của họ. Trong luận văn này, danh nhân được nghiên cứu theo.
cách tiếp cận văn hoá học lịch sử, xem danh nhân như những nhân cách văn hoá kiệt xuất, đã có những đóng góp sáng giá vào thời kỳ phục hưng văn hoá dân tộc. Đê tiến hành nghiên cứu danh nhân theo hướng phân tích văn hoá học. lịch sử, cần thống nhất quan niệm về một số khái niệm công cụ cơ bản được sử dụng trong luận văn. Các khái niệm công cụ 1.
Khái niệm văn hoá Trong đời sống xã hội, từ văn hoá được dùng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, vì thể nó trở thành đa nghĩa. Cho nên, khi luận bàn các vấn đề liên quan đến văn hoá, người ta phải làm rõ nghĩa của thuật ngữ này. Trong hoạt động khoa học đã có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ văn hoá. Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng có một số điểm chung mà các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng: văn hoá là phương thức tổn tại (tức là hoạt động sáng.
tạo để kiếm sí ống) chỉ có ở loài người, khác về cơ bản với t ức đời sống của các quần thé sinh vật trên trái đất. Văn hoá là cái do con người học được mà có, chứ không phải cái bẩm sinh do di truyền sinh học. Bàn về cội nguồn của văn hoá, nhà triết học, cỗ sinh vật học, linh mục người Pháp Teilhard de Chardin (1881-1955) đã cho ra đời cuốn sách “Hiện 18 * Van hoa la tống thể hoạt động sáng tạo, làm ra những sản phẩm mới gọi là những vật thể nhân tao (Artefactes), có người gọi là “ ;hiển nhiên thứ: hai” hay “thé giới nhân tạo”. * Hoạt động sáng tạo này diễn ra liên tục từ quá khứ đến hiện tại, nói lên tính chất lịch sử của văn hoá.
Điều này có nghĩa là thế giới nhân tạo đang hiện diện không phải tức khắc sinh thành mà nó được sáng tạo, sàng lọc qua thời gian tích luỹ từ quá khứ đến hiện tại. Đó là tính chất kế thừa lịch sử của hoạt động văn hoá. * Hoạt động sáng tạo trong lịch sử đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và thị hiểu, gọi chung là “kệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội ”. Đây chính là nội dung tinh than của khái niệm văn hoá.
Lý luận văn hoá giải thích: Mỗi vật thể nhân tạo được xem như một hiện vật văn hoá, chứa đựng nhiều ý nghĩa. Lấy ví dụ, chiếc rìu đá mài xuất hiện vào thời đại đá mới hậu kỳ cách đây vào khoảng 4.000 năm, có thể có những ý nghĩa gi? ~ Thứ nhất, so với đồ đá đềo thì rìu đá mài được chế tác theo công nghệ tinh vi hon, nhờ đó mà hiệu quả sử dụng cao hơn, đôi khi nó trở thành “vật thiêng” được cả bộ lạc tôn thờ. Đó là ý nghĩa tâm linh của công cụ sản xuất - Thứ hai, nhờ quan sát trực tiếp, người ta có thể phân ra nhiều loại đá khác nhau để 10 ra các loại công cụ và vũ khí khác nhau, thích hợp với công năng của chúng và với nhu cầu của hoạt động sống của con người. này nói lên ý nghĩa tiến bộ về nhận thức biểu thị trong công nghệ học.
~ Thứ ba, công cụ được chế tác cân xứng, đôi khi có trang trí hoa văn, nói lên ý nghĩa thâm mĩ mà chủ nhân của nó đạt được. 19 Xem như vậy, thì thế giới vật thể nhân tạo, xét về mặt tỉnh thn, chính là thế giới ý nghĩa của văn hoá. GS người Nga A. Ca-rơ-min, trong cuốn sách giáo khoa “Jăn hoá “học ” của mình đã hình dung “thé giới ý nghĩa của văn hod" được cầu tạo thành.
ba bình diện, có quan hệ “ương liên” và “ương tác” qua lại với nhau trong một không gian văn hoá: ~ Thứ nhất, bình diện nhận thức nói về trình độ hiểu biết của thành viên trong xã hội; ~ Thứ hai, bình điện giá trị nói về hệ thống giá trị mà xã hội theo đuổi; ~ Thứ ba, bình diện điều tiết nói về luật pháp và các phong tục, tập quán được vận hành để điều chỉnh các hành vi xã hội. Ba bình diện trên là những trục cơ bản xác định không gian văn hoá của một cộng đồng xã hội. * Cuối cùng, hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội được xem là cái tạo nên bản sắc văn hoá của một cộng đồng người. Trong việc nghiên cứu văn hoá, các nhà khoa học còn chia thành hai dạng: văn hoá cá nhân và văn hoá cộng đồng.
- Văn hoá cá nhân nhấn mạnh vào tài năng sáng tạo của cá nhân, gồm toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm tích luỹ vào một con người, biểu hiện ra ở. định hướng giá trị (lý tưởng) và toàn bộ phương thức hành xử của người ấy trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với bản thân người ấy. Văn hoá cá nhân phát triển đến đỉnh cao, thì trở thành danh nhân. ~ Văn hoá công đồng là văn hoá của một nhóm xã hội, nó không phải là số cộng giản đơn của những văn hoá cá nhân - thành viên của cộng đồng, mà là toàn bộ hệ giá trị và chuẩn mực xã hội và các phương thức hành xử được các 20 thành viên trong cộng đồng chia sẻ và tự giác thực hiện, đã trở thành truyền thống của họ.
“Trong luận văn này, văn hoá danh nhân là thuộc dạng văn hoá cá nhân, còn văn hoá danh nhân đời Trần là thuộc dạng văn hoá cộng đồng. Định nghĩa văn hoá của Federico Mayor vừa giới thiệu trên đây là thuộc dạng thứ hai. Khái niệm danh nhân “Theo nghĩa thông thường thì danh nhân là người có danh tiếng, được. nhiều người biết đến.
Danh tiếng ở đây phải là tiếng thơm, gắn với phẩm chất cao quý cả về tài năng và đức độ, được số đông các thành viên trong cộng đồng ngưỡng mộ. “Tuy vậy, không phải mọi người nỗi tiếng đều được gọi là danh nhân, bởi trong xã hội có một bộ phận người muốn “nổi danh” bằng bắt cứ giá nào thậm chí có người còn cố ý gây “tai tiếng” (xì - căng - đan) để mọi người biết tên. Đó là những người nỗi danh bằng động cơ “bắt chính”. Trong lịch sử thường có hai loại nhân vật: Chính diện là những người yêu nước, thương dân, suốt đời phấn đầu, hy sinh mưu hạnh phúc cho dân tộc.
Phản diện là những kẻ bán nước, buôn dân, làm việc gì cũng nhằm vào lợi ích vị kỷ, Hai loại nhân vật trên đều nỗi tiếng, nhưng anh hùng thì lưu danh muôn đời, còn gian hùng thì lưu xú (tiếng xấu) vạn niên. Đó là lẽ công bằng của tạo hóa. ‘Tom lại, danh nhân là danh xưng chỉ chung các người nỗi tiếng, có những đóng góp to lớn, xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học, giáo dục nghệ thuật, xã hội v. góp phần thúc đây sự phát triển đất nước trong từng giai đoạn lịch sử, có đạo đức trong sáng, được nhà nước tôn vinh và tưởng lệ công trạng, được nhân dân suy tôn thành biểu tượng, treo gương cho.
hậu thế noi theo. 21 “Từ cách nhìn văn hóa học có thể nhìn nhận danh nhân trong bắt cứ lĩnh vực hoạt động nào cũng có thể xem như một cá nhân có nhân cách văn hóa kiệt xuất, thể hiện ở ba tiêu chí sau: ~ Tài năng xuất chúng thể hiện ở những cống hiến quan trọng, đóng góp vào tiến bộ xã hội; - Đạo đức cao cả, biêu hiện ở tỉnh thần xả thân vì nghĩa lớn, nêu gương sáng cho đời sau; ~ Do có tải đức vẹn toàn, nên danh nhân thường được nhà nước vinh danh và ban thưởng công trạng, nhân dân suy tôn thành biểu tượng, mãi mãi đáng tự hào. Danh nhân - một nhân cách văn hóa kiệt xuất Như phần trên đã phân tích, danh nhân thuộc dạng văn hóa cá nhân - tức văn hóa của một con người. Trong lịch sử hình thành và phát triển, con người không ngừng sáng tạo ra các giá trị văn hóa.
Một trong giá trị ấy chính là nhân cách của nó, 'Cũng giống như văn hóa, nhân cách là một thuật ngữ có hàm lượng nghĩa phong phú và phức tạp. Khái niệm nhân cách lần đầu tiên được hai nhà tâm lý.