Tổng quan nghiên cứu
Làng gốm Chu Đậu thuộc thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương là một trong những trung tâm gốm sứ cổ truyền rực rỡ bậc nhất Việt Nam với lịch sử phát triển hoàng kim từ thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười bảy. Sau hơn 400 năm bị thất truyền do biến thiên lịch sử và chiến tranh Trịnh - Mạc, dấu tích của dòng gốm quý này đã bất ngờ được phát hiện từ chiếc bình gốm hoa lam cao 54 cm lưu giữ tại Bảo tàng Topkapi Saray ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, được định giá bảo hiểm lên tới 1 triệu USD vào năm 1980. Sự kiện trục vớt con tàu cổ Cù Lao Chàm với hơn 380.000 cổ vật gốm Chu Đậu còn nguyên vẹn và sự hiện diện của di vật tại 46 bảo tàng danh tiếng ở 32 quốc gia đã khẳng định vị thế đỉnh cao của nghệ thuật gốm Việt Nam trên bản đồ di sản thế giới.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình tái sinh và biến đổi văn hóa của làng gốm Chu Đậu dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ chế kinh tế thị trường. Mục tiêu cụ thể là phân tích sâu sắc các phương diện chuyển dịch văn hóa vật thể và phi vật thể, nhận diện nguyên nhân, quy luật vận động, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại thôn Chu Đậu với diện tích 59,3 ha và quy mô 1.210 nhân khẩu, trong khung thời gian khảo sát thực địa từ năm 2000 đến năm 2015. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện phương châm ly nông bất ly hương và gia tăng tỷ trọng kinh tế du lịch làng nghề.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết về biến đổi văn hóa và hiện đại hóa của các học giả quốc tế như Ronald Inglehart, Wayne E. Baker và Louise Spindler, kết hợp với các nghiên cứu cấu trúc làng xã truyền thống đồng bằng Bắc Bộ của các nhà khoa học Việt Nam như Trần Từ, Bùi Văn Vượng và Nguyễn Thị Phương Châm. Mô hình nghiên cứu đặt sự biến đổi văn hóa làng nghề trong mối quan hệ tương hỗ giữa hai thành tố cốt lõi: văn hóa làng bao gồm cảnh quan, di tích, quan hệ họ tộc, phong tục tập quán và văn hóa nghề bao gồm kỹ thuật chế tác, tổ chức sản xuất, phương thức truyền nghề và tâm lý thợ thủ công.
Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm công cụ cơ bản: Nghề thủ công truyền thống, Làng nghề, Làng nghề thủ công truyền thống, Văn hóa làng nghề và Biến đổi văn hóa làng nghề. Theo tiêu chí định lượng chuẩn, một làng nghề truyền thống điển hình phải có từ 40% đến 50% số hộ tham gia sản xuất và nguồn thu từ nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của làng. Tại Việt Nam, mạng lưới hơn 300 làng nghề thủ công truyền thống đang trải qua quá trình tái cấu trúc sâu sắc để thích ứng với bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ tư liệu thứ cấp qua 5 đợt khai quật khảo cổ học trên diện tích 140,5 m² tại Chu Đậu từ năm 1986 đến năm 1991, cùng các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân xã Thái Tân. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa liên tục trong giai đoạn 2000 - 2015.
Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng bao gồm 100 hộ gia đình tại thôn Chu Đậu, kết hợp phỏng vấn sâu 20 đối tượng đại diện gồm nghệ nhân ưu tú, thợ kỹ thuật, cán bộ quản lý doanh nghiệp và lãnh đạo chính quyền địa phương. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát cả nhóm thợ làm việc tại xí nghiệp tập trung và các hộ gia đình tự mở xưởng sản xuất gốm sứ tư nhân. Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành kết hợp giữa nghiên cứu văn hóa dân gian, nhân học, lịch sử đối sánh và xã hội học thực nghiệm. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, vừa bóc tách được các biến đổi hữu hình về công nghệ, diện mạo không gian, vừa thấu thị được sự chuyển dịch trong chiều sâu tâm lý xã hội của cư dân làng nghề.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, có sự chuyển biến mạnh mẽ về hình thức tổ chức sản xuất và công nghệ chế tác. Từ mô hình kinh tế nông nghiệp kết hợp dệt chiếu cói nhỏ lẻ trước năm 2000, làng Chu Đậu đã chuyển dịch sang mô hình doanh nghiệp hiện đại với sự ra đời của Xí nghiệp Gốm Chu Đậu trực thuộc Tổng công ty Thương mại Hà Nội vào năm 2001 trên diện tích 33.250 m², tổng vốn đầu tư giai đoạn một là 24 tỷ đồng. Về kỹ thuật, việc thay thế lò nung củi truyền thống bằng hệ thống lò nung đốt khí gas công nghệ cao đã nâng tỷ lệ sản phẩm đạt tiêu chuẩn loại một lên tới 80%, nhiệt độ nung duy trì ổn định ở mức 1.200°C và giảm thời gian ra lò xuống còn khoảng 12 giờ.
Thứ hai, sản phẩm gốm được đa dạng hóa và thâm nhập thành công vào thị trường quốc tế. Doanh thu của xí nghiệp gốm năm 2006 đạt 4,4 tỷ đồng, vượt 25,7% kế hoạch và tăng 69% so với năm 2005. Trung bình mỗi tháng cơ sở sản xuất xuất khẩu 4 container với khối lượng 30.000 sản phẩm mỹ nghệ chất lượng cao sang các thị trường như Tây Ban Nha, Nhật Bản và Nga.
Thứ ba, phương thức truyền nghề đã chuyển từ hình thức cha truyền con nối khép kín sang đào tạo tập trung mang tính xã hội hóa. Ban lãnh đạo thôn phối hợp cùng doanh nghiệp mở 2 lớp dạy nghề quy chuẩn tại nhà văn hóa, đào tạo bài bản cho 160 lao động trẻ tại địa phương. Toàn thôn có trên 40 đến 50 lao động làm việc thường xuyên tại công ty gốm và hàng trăm lao động làm việc tại các xưởng tư nhân quy mô lớn của các nghệ nhân địa phương.
Thứ tư, không gian cư trú và đời sống tâm linh có sự dung hợp mới. Thống kê giai đoạn 2005 - 2009 cho thấy tỷ lệ nhà mái bằng kiên cố và nhà cao tầng tăng trên 45%, hạ tầng đường làng ngõ xóm được bê tông hóa 100%. Tín ngưỡng thờ tổ nghề được khôi phục trang trọng với đền thờ bà tổ nghề gốm Bùi Thị Hý và các bậc tiền nhân dòng họ Đặng, họ Vương.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của sự biến đổi văn hóa tại Chu Đậu xuất phát từ tác động kép: quá trình đô thị hóa mạnh mẽ từ thành phố Hải Dương cách đó 7 km và chiến lược tiếp thị, đầu tư bài bản của doanh nghiệp nhà nước. So với các nghiên cứu biến đổi tại làng gốm Bát Tràng hay làng dệt La Phù vốn có sự liên tục về lịch sử, trường hợp Chu Đậu mang tính đặc thù cao bởi đây là sự tái sinh ngoạn mục của một dòng gốm đã đứt gãy truyền thống hơn 4 thế kỷ.
Dữ liệu khảo sát từ các bảng thống kê nhà ở và biểu đồ tham gia công việc họ tộc cho thấy trên 70% người dân địa phương vẫn giữ vững sự cố kết cộng đồng và đạo lý uống nước nhớ nguồn, dù phương thức sinh kế đã hiện đại hóa. Sự thành công của mô hình gốm Chu Đậu chứng minh tính đúng đắn của chủ trương công nghiệp hóa nông thôn gắn với bảo tồn di sản, tạo động lực giải quyết việc làm cho 160 tài xế vận tải và nhiều ngành nghề dịch vụ phụ trợ phát triển song hành.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, quy hoạch đồng bộ không gian làng nghề gắn với phát triển du lịch di sản sinh thái.
- Hành động: Xây dựng khu trung tâm trải nghiệm văn hóa gốm rộng 5.000 m² và hoàn thiện bến thuyền du lịch kết nối tuyến sông Thái Bình.
- Chỉ số mục tiêu: Thu hút tối thiểu 50.000 lượt khách tham quan mỗi năm, nâng tỷ lệ khách du lịch mua sắm sản phẩm lưu niệm đạt 65%.
- Lộ trình: Giai đoạn 2016 - 2020.
- Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Dương.
Thứ hai, chuẩn hóa chương trình đào tạo nghệ nhân và bảo tồn bí quyết men tro trấu cổ truyền.
- Hành động: Tổ chức 5 khóa đào tạo nâng cao tay nghề tạo hình bàn xoay và vẽ hoa lam truyền thống cho thế hệ trẻ.
- Chỉ số mục tiêu: Đào tạo 300 thợ gốm lành nghề, nâng tỷ lệ sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh hoa đạt 25% tổng sản lượng.
- Lộ trình: Định kỳ hàng năm từ 2017 đến 2022.
- Chủ thể thực hiện: Công ty cổ phần Gốm Chu Đậu phối hợp với Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.
Thứ ba, đẩy mạnh xúc tiến thương mại quốc tế và bảo hộ chỉ dẫn địa lý.
- Hành động: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận tại 15 quốc gia mục tiêu và triển khai sàn thương mại điện tử chuyên ngành gốm mỹ nghệ.
- Chỉ số mục tiêu: Tăng trưởng doanh thu xuất khẩu từ 15% đến 20% mỗi năm, đạt mốc doanh thu 15 tỷ đồng vào năm 2025.
- Lộ trình: Giai đoạn 2018 - 2025.
- Chủ thể thực hiện: Tổng công ty Thương mại Hà Nội kết hợp với Sở Công Thương tỉnh Hải Dương.
Thứ tư, xử lý triệt để ô nhiễm môi trường và quản lý bền vững nguồn nguyên liệu đất sét cao lanh.
- Hành động: Đầu tư hệ thống xử lý nước thải công nghiệp công suất 500 m³/ngày đêm và chuyển đổi 100% cơ sở sản xuất cá thể sang lò đốt gas thân thiện với môi trường.
- Chỉ số mục tiêu: Giảm thiểu 90% lượng khí thải độc hại và bụi mịn ra khu dân cư.
- Lộ trình: Hoàn thành trước năm 2020.
- Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân xã Thái Tân phối hợp với Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Hải Dương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách công và cán bộ quản lý văn hóa cấp tỉnh, huyện. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn sâu sắc để xây dựng đề án bảo tồn hơn 300 làng nghề truyền thống và phát triển mô hình mỗi xã một sản phẩm trong xây dựng nông thôn mới.
Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo các doanh nghiệp, hợp tác xã thủ công mỹ nghệ. Tài liệu này mang lại bài học kinh nghiệm giá trị về mô hình liên kết doanh nghiệp với cộng đồng cư dân bản địa, từ bước phục dựng mẫu mã cổ đến việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu tại 32 quốc gia.
Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học và Lịch sử. Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp tiếp cận văn hóa liên ngành, thiết kế nghiên cứu điền dã và xử lý dữ liệu khảo cổ học kết hợp xã hội học.
Nhóm thứ tư là các chuyên gia quy hoạch du lịch và hướng dẫn viên du lịch văn hóa. Luận văn mở ra góc nhìn toàn diện về tài nguyên du lịch nhân văn, lịch sử 400 năm phát triển và giá trị thẩm mỹ của gốm Chu Đậu để xây dựng các tour du lịch trải nghiệm chuyên đề đặc sắc.
Câu hỏi thường gặp
Giá trị nghệ thuật độc bản làm nên danh tiếng quốc tế của gốm Chu Đậu là gì?
Gốm Chu Đậu nổi danh nhờ kỹ thuật chế tác đỉnh cao từ đất sét trắng tả ngạn sông Kinh Thầy kết hợp lớp men tro trấu nếp tự nhiên. Sản phẩm gốm men trắng chàm hoa lam và men tam thái mang họa tiết hoa cúc dây, chim muông, phản ánh đậm nét bản sắc thuần khiết của văn minh lúa nước Việt Nam thế kỷ mười lăm.
Mô hình hồi sinh làng gốm Chu Đậu có điểm gì khác biệt so với các làng nghề truyền thống khác?
Khác với sự phát triển liên tục tại các làng gốm như Bát Tràng, Chu Đậu đã thất truyền hơn 400 năm. Sự hồi sinh thần kỳ bắt đầu từ năm 2001 nhờ nguồn vốn đầu tư 24 tỷ đồng của doanh nghiệp và sự chung tay của hơn 20 nghệ nhân tài hoa khắp mọi miền đất nước để giải mã kỹ thuật cổ.
Quá trình cơ giới hóa tác động như thế nào đến tâm lý của người thợ thủ công địa phương?
Người thợ gốm Chu Đậu đã nhanh chóng thích nghi với tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động hiện đại. Dù vậy, các giá trị đạo đức truyền thống như giữ chữ tín trong buôn bán và tinh thần gắn bó họ tộc vẫn được duy trì bền vững với trên 70% người dân tích cực tham gia sinh hoạt lễ hội tâm linh của làng.
Luận văn đã sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát thực tế như thế nào để đảm bảo tính chuẩn xác?
Tác giả đã áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với quy mô 100 hộ dân và 20 cuộc phỏng vấn sâu tại thôn Chu Đậu có 1.210 nhân khẩu. Cấu trúc mẫu khảo sát bao quát đầy đủ các thế hệ từ nghệ nhân cao tuổi, thợ trẻ cho đến các chủ xưởng sản xuất tư nhân.
Bài học kinh nghiệm lớn nhất từ nghiên cứu gốm Chu Đậu để nhân rộng cho các làng nghề khác là gì?
Đó là sự kết hợp hài hòa giữa công nghệ hiện đại hóa như hệ thống lò gas đạt hiệu suất 80% với nghệ thuật thủ công tinh xảo, đồng thời giải quyết bài toán an sinh qua việc giữ chân hơn 160 lao động địa phương theo định hướng ly nông bất ly hương.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về làng nghề, văn hóa làng nghề và xác lập khung phân tích liên ngành để đánh giá sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trong kỷ nguyên đổi mới.
- Khắc họa bức tranh biến đổi toàn diện của làng gốm Chu Đậu giai đoạn 2000 - 2015 trên 5 phương diện: kỹ thuật chế tác, tổ chức sản xuất, không gian cư trú, quan hệ xã hội và phong tục tín ngưỡng.
- Đúc kết bài học thực tiễn giá trị về sự hồi sinh của dòng gốm thất truyền hơn 400 năm thông qua sự đầu tư 24 tỷ đồng của doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ với di sản 380.000 cổ vật khảo cổ học.
- Khẳng định tính ưu việt của việc đổi mới công nghệ lò gas đạt hiệu suất 80% thành phẩm, góp phần nâng cao đời sống vật chất và giữ vững hồn cốt văn hóa dân tộc của cộng đồng 1.210 cư dân Chu Đậu.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cao nhằm định hướng phát triển làng nghề gốm Chu Đậu trở thành trung tâm du lịch văn hóa bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2020 đến năm 2030, hướng nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng đánh giá tác động của thương mại điện tử xuyên biên giới và công nghệ số đối với việc gìn giữ di sản văn hóa làng nghề. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn luận văn thạc sĩ đến quý độc giả, các nhà nghiên cứu văn hóa và các nhà quản lý để cùng chung tay bảo tồn, lan tỏa tinh hoa văn hóa Việt Nam trường tồn cùng thời gian.