Chương 1 VẤN ĐỀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ TRUYỆN KIỀU Trước khi bàn về vấn đề vận dụng lý luận chủ nghĩa hiện thực trong nghiên cứu văn học Việt Nam và Truyện Kiều hồi đầu thế kỉ XX, thiết tưởng cũng nên trình bày rõ về nội hàm của các thuật ngữ mà luận văn hướng đến thảo luận: Chủ nghĩa hiện thực và các khái niệm liên quan - Chủ nghĩa hiện thực phê phán, Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa…. “Theo nghĩa hẹp, khái niệm chủ nghĩa hiện thực được dùng để chỉ một phương pháp nghệ thuật, hay một khuynh hướng, một trào lưu văn học có nội dung chặt chẽ” [10, tr.54] với các nguyên tắc mỹ học như sau: mô tả cuộc sống bằng hình tượng và điển hình hóa; thừa nhận và tái hiện chân thực sự tác động qua lại giữ con người và môi trường sống, tính cách và hoàn cảnh; coi trọng những chi tiết cụ thể và độ chính xác của chúng trong việc mô tả con người và cuộc sống, chú ý khách quan hóa những điều được mô tả… “Ngoài chi tiết chân thực, chủ nghĩa hiện thực còn đòi hỏi một sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [45], Mác nhấn mạnh: “chỉ có thế giới được hiểu biết y như nó tồn tại mới là hiện thực”. Thuật ngữ, chủ nghĩa hiện thực phê phán, như tên gọi của nó, “nhấn mạnh khuynh hướng phê phán, tố cáo”, “tinh thần phê phán toàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội, các hiện thực mâu thuẫn giữa chế độ tư sản với các chuẩn mực nhân tính đúng như nó có trong thực tế”. Còn khái niệm chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa được dùng để chỉ phương pháp pháp sáng tác có các đặc điểm như: lấy “thế giới quan Mác-Lênin làm cơ sở triết học, nguyên lý tính đảng vô sản làm nguyên tắc chỉ đạo”, chủ trương “miêu tả hiện thực một cách chân thực lịch sử cụ thể trong quá trình phát triển biện chứng của nó”, coi việc đấu tranh nhằm khẳng định bằng nghệ thuật những cái mới, cái tích c 13 cực trong cuộc sống là nhiệm vụ chủ yếu của sự phản ánh thực tại [10, tr.
Ở Việt Nam, càng về sau, lý luận về chủ nghĩa hiện thực được hiểu là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong khuôn khổ luận văn, dưới đây chúng tôi điểm lại đôi nét về việc vận dụng lý luận chủ nghĩa hiện thực vào nghiên cứu văn học sử Việt Nam giai đoạn trước 1970. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945: khái niệm chủ nghĩa tả chân Từ trước năm 1945, lý luận chủ nghĩa hiện thực đã được vận dụng vào việc phân tích, đánh giá văn học Việt Nam, từ văn học dân gian, cổ-trung đại đến văn học hiện đại. Đầu thế kỉ XX, trong đời sống báo chí, sáng tác, phê bình văn học Việt Nam xuất hiện khái niệm “tả thực”, “tả chân” với ý nghĩa khu biệt với thứ văn chương ước lệ, khuôn sáo của văn học trung đại.
Các tác giả đầu tiên đề cập đến khái niệm này và vận dụng nó trong phê bình, đánh giá là Thiếu Sơn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học… Giới thiệu “Một lối văn mới: Sống chết mặc bay” [50], Phạm Quỳnh đã có nhận xét: Trong học giới, báo giới ta, chắc ai cũng đã biết tên ông Phạm Duy Tốn. Ông là một người rất nhiệt thành với văn chương quốc ngữ, và đã biệt lập ra một lối văn riêng lấy sự tả chân làm cốt. Mỗi bài văn của ông như một tấm ảnh phản chiếu cái chân tương như hệt. Ông tin rằng phàm văn chương đã tả được hết cái thực, là tự khắc có cái sức cảm động vô cùng, không cần phải nghị luận xa xôi.
Văn chương ta xưa nay thường lấy sự mập mờ phảng phất làm hay, càng phiếu diễu bao nhiêu càng huyền diệu bấy nhiêu nên ít dụng lối tả thực, coi là tầm thường. Nay xét văn học họa học của Thái Tây, phần nhiều lại trọng lối tả thực hơn là lối phá bút. Quốc văn ta sau này tất chịu ảnh hưởng của văn Tây nhiều, lối tả thực rồi tất mỗi ngày một thịnh hành. Như bài văn ông Phạm Duy Tốn sau này cũng gọi là một bài tả thực c 14 tuyệt khéo… Văn tả thực mà được như vậy cũng đã khéo thay.
Bản báo đăng bài này mà có lời khen ông Phạm Duy Tốn đã có công với quốc văn”. Ở một bài viết khác, “Lối tả chân trong văn chương”, Phạm Quỳnh cũng có những nhận xét tương tự, ông nói: “Văn chương đời nay thường trọng lối tả thực hơn lối phá bút…” [51] Xuất phát từ quan niệm trọng lối tả thực như vậy, nên điều lệ của một cuộc thi sáng tác tiểu thuyết trên Nam phong tạp chí năm 1918 đã yêu cầu: “tiểu thuyết phải làm theo lối châu Âu…. Phải dùng phép tả thực, không được bịa đặt những chi tiết hoang đường, kỳ quái. Trọng nhất là tả được cái tâm lý người ta cùng cái tình trạng trong xã hội” [52].
Thiếu Sơn trong Phê bình cảo luận (1933), nhận thấy do ảnh hưởng của khoa học nên tiểu thuyết coi trọng việc tả thực: “gần đây khắp văn chương thế giới đâu đâu cũng có cái phong trào tả thực. Mà cái phong trào này là nguyên lai tự cái tri thức nhân loại nó đã tiến hóa theo khoa học tới một cái trình độ khác cao. Nhưng tả thực là thế nào? Tả thực là đem những sự mắt thấy tai nghe cho vào văn chương sách vở. Nhà cổ điển chỉ tả những hiện tượng đại đồng của tâm giới.
Nhà lãng mạn chỉ tả những mối tình cảm mơ màng của thi nhân. Còn nhà văn học tả thực thì chẳng chịu bỏ sót một cái gì là không nói đến. Tâm giới cũng tả mà ngoại giới cũng tả….Trong phái tả thực đã có người chịu khó trà trộn vào những hạng người lao động thợ thuyền, lẩn quẩn ở những nơi đầu đường xó chợ, cốt để tìm tòi học hỏi cho biết cái sinh hoạt của khắp các hạng người trong xã hội… Như ý tôi, thì tả thực là nên, nhưng phải tả hết cả sự thực, chớ nên nói cái này mà bỏ cái kia” [56, tr. Hải Triều gắn chủ nghĩa tả chân xã hội với giá trị phản ánh, tố cáo hiện thực, giá trị nhân sinh Nói về lý luận chủ nghĩa tả chân, không thể không nhắc đến Hải Triều, người có công đầu trong việc xây dựng nền lý luận phê bình văn học mác xít ở ta.
c 15 Trong bài “Sự tiến hóa của văn học và sự tiến hóa của nhân sinh” Hải Triều đã dùng duy vật biện chứng pháp phê bình cái quan hệ của sự tiến hóa về văn học và sự tiến hóa về nhân sinh” [67]. Hải Triều quan niệm văn học quan hệ chặt chẽ với xã hội, văn học là một bộ phận của thượng tầng kiết thiết, “văn học là cái biểu hiện của nhân sinh, không biểu hiện được nhân sinh thì không ra văn học”, “nếu nền kinh tế của xã hội biến đổi thì nền văn học cũng biến đổi theo”. Đứng trên lập trường này, Hải Triều đề cao văn học gắn với nhân sinh, phê phán thứ: văn học tự nhiên chủ nghĩa, lãng mạn chủ nghĩa, tượng trưng chủ nghĩa, duy mỹ chủ nghĩa, nghệ thuật thuần túy. Đối với Hải Triều, văn học có chức năng phô diễn tư tưởng, mà tư tưởng là cái phản ảnh của vật chất [68]; hoàn cảnh vật chất chi phối sự sáng tạo văn chương; văn chương là sản phẩm của xã hội, thời đại, “phát nguyên của nghệ thuật là trong sự sống” [70], “không có nhà văn nào có thể thoát li ra khỏi sinh hoạt xã hội mà sáng tác văn chương được” [75].
Thời đại biến đổi thì văn học biến đối theo, muốn cắt nghĩa văn học phải căn cứ vào xã hội, nhân sinh: “diễn tả cho đúng cái tư tưởng, cái ý chí tình cảm của mỗi giai cấp, mỗi thời đại trong lịch sử là một cái sứ mệnh tối cao của nhà văn học chân chính, dẫu ở đời nào cũng thế, ở xứ nào cũng thế” [69]. Hải Triều chủ trương lấy nghệ thuật phụng sự cho nhân sinh: “nghệ thuật chân chính - theo Hải Triều - là cái nghệ thuật vị nhân sinh” [70]. Ông tán thành quan điểm của L.Tolstoi cho rằng văn nghệ sĩ phải “chỉ cho loài người thấy con đường giải thoát khỏi những khốn khổ ngày nay và tìm những cái mới mẻ hơn”. Nghệ sĩ đích thực là người lấy nhân sinh, dân sinh làm cứu cánh cho nghệ thuật, là người thuộc về quần chúng nhân dân, “giữa cuộc phân tranh của xã hội, trước những vấn đề sống còn của thời đại, nhân loại đang mong mỏi”, nghệ sĩ phải biết diễn dịch nỗi lòng của họ, “làm sao mà những sự đau thương, mong mỏi, sự buồn giận, sự vui sướng trong tâm khảm họ đều vẽ lên thành những bức tranh linh hoạt chan chứa tình cảm” [71], diễn tả bằng những câu văn chân thật, cứng cỏi, mạnh bạo”, “bình dị mà thiết thực” [72].
c 16 Theo Hải Triều, tập truyện Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan là tác phẩm đã “mở ra một kỉ nguyên mới cho các tư triều văn nghệ tả thiệt về xã hội ở nước ta”. Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan có hai đặc điểm: về hình thức,khuynh hướng về tả thực; về nội dung, khuynh hướng về xã hội. “Hình thức và nội dung đi đôi với nhau thì tác phẩm mới có giá trị. Xem văn Kép Tư Bền, chúng ta nhận thấy rõ tác giả đã đứng về mặt tả thực chủ nghĩa (réalisme).
Với những câu văn rất thành thực, chắc chắn, hí hởn, ngộ nghĩnh, nhiều khi cục cằn thô bỉ nữa, chúng ta phải phục Nguyễn Quân là một nhà kể chuyện rất thiệt và rất có duyên. Về phương diện tả thực, có thể nói tác giả đã đạt đến mục đích một phần lớn rồi vậy”. Nghệ thuật tả thực chủ nghĩa, như Hải Triều yêu cầu, là thứ nghệ thuật vị xã hội đích sinh hoạt”. [73] Cần phân biệt ở Hải Triều hai loại tả thực chủ nghĩa.
Một loại tả thực chủ nghĩa như Nguyễn Công Hoan và một loại như M. Hải Triều gọi khuynh hướng tả thực của Gorki là chủ nghĩa tả thực xã hội, “cốt ở sự tả một cách chân thực, rành mạch những thực trạng quá khứ hay hiện tại, làm thế nào cho sự tả thực ấy có thể đưa quần chúng đến chỗ giác ngộ tranh đấu để kiến thiết xã hội chủ nghĩa” [73]. Tả thực xã hội hay tả thực xã hội chủ nghĩa (như sáng tác của Gorki, Lan Khai) trong các diễn giải của Hải Triều chính là một thuật ngữ chỉ phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa: “văn chương của giai cấp vô sản là văn chương tả thực xã hội” [75].