Chương 1 luận văn này là làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về thực tiễn xét xử và chứng minh vai trò của thực tiễn xét xử đối với hoạt động phát triển, hoàn thiện các quy định pháp luật. KHÁI NIỆM, CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ NHỮNG HÌNH THỨC CỦA THỰC TIỄN XÉT XỬ 1. Khái niệm thực tiễn xét xử Như đã nêu trên, do chưa được nghiên cứu nhiều trong khoa học pháp lý nên khái niệm thực tiễn xét xử tiêu biểu nhất có thể kể đến có lẽ chỉ gồm hai khái niệm sau đây: Khái niệm thứ nhất được đưa ra bởi GS. người Liên Xô cũ Tkeseliađze G., trong đó thực tiễn xét xử được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau.
Theo nghĩa rộng, thực tiễn xét xử bao gồm hoạt động của tất cả các cấp của hệ thống Tòa án đối với việc xem xét các vụ án cụ thể. Còn theo nghĩa hẹp, thực tiễn xét xử bao gồm chỉ có hoạt động của các Tòa án 17 z trong việc soạn thảo các luận điểm nhất định trên cơ sở cụ thể hóa và áp dụng pháp luật nhiều lần [Dẫn theo: 7, tr. Như vậy, hai cách hiểu về khái niệm thực tiễn xét xử này có phần rất khác biệt với nhau. Với cách hiểu thứ nhất (nghĩa rộng) thì thực tiễn xét xử là tất cả các hoạt động nhằm giải quyết các vụ án cụ thể của các tất cả các Tòa án.
Còn theo nghĩa thứ hai (nghĩa hẹp) có vẻ trừu tượng hơn nhưng có thể hiểu thực tiễn xét xử là hoạt động tổng kết tình hình xét xử, đưa ra những đánh giá khái quát (có thể để rút kinh nghiệm hoặc định hướng xét xử). Chúng tôi nhất trí rằng ý nghĩa bên trong hai cách hiểu trên đã phản ánh đúng bản chất của thực tiễn xét xử nhưng mỗi cách nhìn nhận đó lại mới chỉ đề cập đến một mặt, một phần trong các mặt khác nhau của thực tiễn xét xử chứ không phải toàn bộ thực tiễn xét xử. Khái niệm thứ hai về thực tiễn xét xử được phát triển từ thực tiễn áp dụng pháp luật của các Tòa án ở Việt Nam do GS. Lê Văn Cảm định nghĩa như sau: Thực tiễn xét xử là một dạng của thực tiễn pháp lý, là hoạt động của Tòa án và được thể hiện bằng bốn hình thức chủ yếu - cụ thể hóa và áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án tại phiên tòa (1), tự do sáng tạo pháp luật của Tòa án (2), các án lệ (3), cũng như đưa ra những giải thích thống nhất có tính chỉ đạo về việc áp dụng pháp luật (4) [7, tr.
Chúng tôi hoàn toàn tán thành với quan điểm của tác giả về nội hàm khái niệm thực tiễn xét xử nêu trên. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng khái niệm này mô tả cụ thể và tập trung nhấn mạnh về hình thức thể hiện của thực tiễn xét xử. Do đó, chúng tôi mong muốn hướng tới xây dựng một khái niệm khác có tính khái quát chung nhất về thực tiễn xét xử. Nói đến thực tiễn xét xử có nghĩa là đề cập đến một trong các dạng cụ thể của hoạt động thực tiễn.
Vì vậy, để nhận thức đầy đủ về thực tiễn xét xử cần phải xuất phát từ khái niệm "thực tiễn" chung. 18 z Về mặt diễn giải ngữ nghĩa, thực tiễn trong Từ điển tiếng Việt được hiểu đơn giản là "hoạt động thực tế của con người" [86, tr. Còn trong triết học, thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức mácxít và được định nghĩa như sau: "Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội" [85, tr. Thực tiễn là những hoạt động vật chất nên có thể nói rằng tất cả những hoạt động bên ngoài hoạt động tinh thần của con người đều là hoạt động thực tiễn.
Khác với các hoạt động tư duy, thực tiễn là hoạt động mà con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo mục đích của mình. Tính có mục đích rõ ràng làm cho hoạt động thực tiễn trở thành hoạt động đặc trưng và bản chất của con người, khác hoạt động bản năng của động vật. Và thực tiễn có tính lịch sử - xã hội bởi vì nó là hoạt động của con người trong xã hội và trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, cơ bản có ba hình thức: Hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị - xã hội; hoạt động thực nghiệm khoa học.
Hoạt động sản xuất vật chất: Là hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn. Đây là hoạt động mà con người sử dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết để duy trì và phát triển con người và xã hội. Hoạt động chính trị xã hội: là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác nhau trong xã hội nhằn cải biến những quan hệ chính trị xã hội. Thúc đẩy xã hội phát triển.
Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra nhằm xác định những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu [85, tr. Với sự phân loại hình thức thực tiễn đó thì thực tiễn xét xử thuộc vào loại hoạt động chính trị - xã hội bởi vì theo Từ điển Luật học thì: 19 z Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án. Các Tòa án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử. Mọi bản án do các Tòa án tuyên đều phải qua xét xử.
Không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các tòa án và kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án. Phân theo nội dung xét xử có: xét xử tội phạm hình sự, xét xử tranh chấp dân sự, xét xử khiếu kiện hành chính, xét xử tranh chấp lao động. Phân theo cấp độ xét xử có: xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm, xét xử giám đốc thẩm, xét xử tái thẩm [80, tr. Hoặc "xét xử là hoạt động của Tòa án tại phiên tòa để xem xét các chứng cứ và căn cứ vào pháp luật, xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định của Tòa án" [29, tr.
Những định nghĩa này đã khẳng định thực tiễn xét xử thuộc dạng hoạt động chính trị xã hội (một trong các dạng thực tiễn) vì đó là hoạt động của tổ chức Tòa án nhằm giải quyết các vi phạm pháp luật hoặc tranh chấp pháp lý tức là giải quyết những vấn đề xã hội. Thuộc về một trong các dạng thực tiễn, bản chất của thực tiễn xét xử phản ánh đúng bản chất chung của thực tiễn: là hoạt động vật chất của con người - hoạt động thực tế của Tòa án; có mục đích - để giải quyết các vi phạm pháp luật hoặc tranh chấp pháp lý; nhằm cải biến tự nhiên và xã hội - nhằm giải quyết mâu thuẫn xã hội, duy trì, bảo vệ công lý, trật tự xã hội… và có tính lịch sử xã hội vì chắc chắn những hoạt động thực tế đó phải diễn ra trong bối cảnh xã hội, lịch sử cụ thể. Ngoài ra, thực tiễn xét xử cũng có bản chất riêng để nhận diện nó trong vô số lĩnh vực thuộc dạng thực tiễn hoạt động chính trị xã hội. Cụ thể, bản chất của thực tiễn xét xử là một phương diện của thực tiễn áp dụng pháp luật bởi vì: 20 z Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền, hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào quy định của pháp luật ra quyết định áp dụng pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội [35, tr.
Thực tiễn xét xử chính là hoạt động của Tòa án (cơ quan có thẩm quyền) căn cứ vào quy định của pháp luật ra quyết định áp dụng pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội - tức là một trong những hoạt động áp dụng pháp luật. Tóm lại, thực tiễn xét xử là toàn bộ những hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án vào việc giải quyết các vi phạm pháp luật hoặc tranh chấp pháp lý cụ thể trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Các đặc điểm cơ bản của thực tiễn xét xử Như phân tích ở trên, là một dạng thực tiễn nên thực tiễn xét xử có đặc điểm chung của các hoạt động thực tiễn, đồng thời nó cũng mang những điểm đặc thù riêng của một dạng thực tiễn pháp lý mà cụ thể ở đây là hoạt động áp dụng pháp luật (bởi vì xét xử là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án - căn cứ vào những quy định của pháp luật để ra các quyết định giải quyết các vụ việc cá biệt). Cơ bản, thực tiễn xét xử có các đặc điểm như sau: * Thực tiễn xét xử là những hoạt động vật chất thực tế và cụ thể Thực tiễn xét xử đề cập đến tất cả những hoạt động của Tòa án trong việc áp dụng quy định pháp luật vào tình huống thực tế của vụ án.
Những hoạt động này rõ ràng được tiến hành bởi một lực lượng xã hội (hệ thống Tòa án), sử dụng các công cụ vật chất được trang bị, tác động đến những quan hệ xã hội cá biệt cần điều chỉnh. Qua hoạt động xét xử của Tòa án những quy định pháp luật chung đã được cá biệt hóa vào trong những những trường hợp cụ thể của đời sống, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể. 21 z * Thực tiễn xét xử có tính lịch sử Hoạt động xét xử là hoạt động diễn ra thường xuyên, lặp lại nhiều lần trong cuộc sống. Vì vậy, sự tồn tại của thực tiễn xét xử luôn gắn bó với giai đoạn, bối cảnh lịch sử cụ thể và phản ánh cả những đặc điểm của giai đoạn lịch sử đó như: tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, trình độ và truyền thống pháp luật; v.
Do đó không thể nào nhận xét, đánh giá về thực tiễn xét xử nếu không đặt nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.