CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Khái quát về giao tiếp 1. Định nghĩa Giao tiếp quá trình trao đổi thông tin giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp, diễn ra trong một ngữ cảnh và tình huống nhất định, bằng một hệ thống tín hiệu nhất định. Theo Các Mác “Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”, và các mối quan hệ này được biểu hiện rõ nhất trong giao tiếp.
Chính vì vậy, giao tiếp không chỉ là một hoạt động xã hội cơ bản, mà nó còn đánh dấu sự phát triển vượt bậc của xã hội. Chính nhờ có giao tiếp mà con người mới hoàn thiện và phát triển. Trong giao tiếp bao giờ cũng có 2 nhân tố: người phát / người nói và người nhận / người nghe. Thực ra trong nhiều hoạt động của con người, mỗi thành viên (người phát ngôn và người nhận) luôn có quan hệ tương tác.
Người nói vừa giữ vai trò chủ động, vừa bị chi phối bởi người nghe. Nghĩa là người nói phải phụ thuộc người nghe để lựa chọn nội dung, phương tiện, cách thức biểu đạt. Người nghe cũng không hoàn toàn thụ động so với người nói, người nghe chi phối nội dung, cách thức của người nói, đồng thời còn tham gia điều chỉnh nội dung và cách thức của người nói, nhìn thái độ của người nghe mà nói. Như thế, hai nhân vật giao tiếp không những có sự đổi vai cho nhau, mà còn luôn luôn tương tác, để có thể điều chỉnh hoạt động nói, hoạt động nghe.
Ngoài ra, mỗi nhân vật giao tiếp đồng thời vừa đóng vai trò của người nói, vừa đóng vai trò của người nghe. Đáng chú ý là quan niệm nổi tiếng của R. Jakobson về giao tiếp. Ông đã xem xét vấn đề giao tiếp dưới góc độ chức năng khu biệt của các đơn vị ngôn ngữ.
Theo ông, mỗi hành vi giao tiếp ngôn ngữ bao gồm 6 nhân tố: người phát, thông điệp, người nhận, ngữ cảnh tiếp xúc và mã. Ông đã khái quát hoạt động giao tiếp qua mô hình sau: Ngữ cảnh Người phát -----> Thông điệp -----> Người nhận Tiếp xúc Mã 9 Mô hình giao tiếp của ông được xem là đầy đủ nhất và phản ánh một cách bản chất nhất cơ chế của một quá trình giao tiếp. Nhân tố giao tiếp Theo tác giả Đỗ Hữu Châu “Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau. Đó là những tương tác bằng ngôn ngữ”.
Nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp, có thể thúc đẩy hoặc tự kết thúc cuộc thoại; chính đó là linh hồn của cuộc thoại. Hoàn cảnh giao tiếp: Những hiện thực bên ngoài diễn ngôn, tạo nên môi trường cho cuộc giao tiếp, gồm hoàn cảnh giao tiếp rộng (tiền giả định bách khoa của các thoại nhân), thoại trường, hiện thực được nói tới trong diễn ngôn. Ngôn ngữ: là phương tiện giao tiếp, gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, các biến thể ngôn ngữ (theo phương ngữ và theo ngữ vực). Diễn ngôn (ngôn bản/văn bản): là đơn vị ngôn ngữ được dùng trong lời nói gồm phát ngôn (dạng hiện thực hóa của câu trong giao tiếp) hay chuỗi các phát ngôn theo một đề tài, chủ đề chung nào đó trong cuộc giao tiếp.
Tình huống giao tiếp (ngữ huống) và ngôn cảnh. Tình huống giao tiếp: là trạng thái trực tiếp, cụ thể của ngữ cảnh ở một thời điểm nhất định nào đó của cuộc giao tiếp do tác động tổng hợp của các nhân tố ở thời điểm đó. Ngôn cảnh: là hoàn cảnh ngôn ngữ, gồm tiền ngôn cảnh và hậu ngôn cảnh 1. Chức năng giao tiếp Chức năng của giao tiếp là vai trò, nhiệm vụ mà giao tiếp phải thực hiện, phải đảm nhiệm trong đời sống cộng đồng.
Cụ thể nó có các chức năng sau: - Chức năng thông tin: Khi giao tiếp, phát ngôn của mỗi bên tham gia đều chứa đựng thông tin. Không có phát ngôn nào là không chứa đựng thông tin. - Chức năng tạo lập quan hệ: Giao tiếp không chỉ có chức năng thông báo mà còn có vai trò, nhiệm vụ thiết lập, củng cố, phát triển các mối quan hệ giữa các đối tượng, làm cho quan hệ đó tốt đẹp lên hoặc xấu đi. Chức năng này góp phần hình thành vai giao tiếp cho mỗi cá nhân trong cộng đồng.
- Chức năng tự biểu hiện. 10 Trong cuộc thoại, con người luôn tự ý thức về bản thân mình thông qua sở thích, tình cảm, khuynh hướng, trạng thái tâm lí. bộc lộ với người đối thoại. - Chức năng giải trí.
- Chức năng hành động. Các chức năng này đan xen phối hợp nhau. Tùy trong từng cuộc giao tiếp cụ thể mà chức năng nào được coi là chính yếu. Xét về việc xác lập “vai” trong giao tiếp thì chức năng “tạo lập quan hệ” và “tự biểu hiện” là quan trọng nhất.
Sự kiện giao tiếp Khi nhắc tới lí thuyết về vai giao tiếp, không thể không nói tới sự kiện giao tiếp.Hymes, để nói lên bản chất của quá trình này chỉ có thuật ngữ SPEAKING (gồm tám chữ cái viết tắt để chỉ tám yếu tố tham gia vào sự kiện giao tiếp) mới miêu tả đầy đủ toàn bộ hoạt động giao tiếp. Dưới đây là sự cụ thể hóa thuật ngữ này. SPEAKING: Sự kiện giao tiếp (1) S: Chu cảnh và bối cảnh (2) P: Người tham gia giao tiếp (3) E: Mục đích giao tiếp (4) A: Chuỗi hành vi (5) K: Kênh hoặc phương thức truyền tin (6) I: Công cụ để truyền tin (7) N: Chuẩn tương tác và chuẩn giải thích (8) G: Thể loại Khi giao tiếp trong bất kể tình huống nào đều phải tuân thủ theo quy tắc nhất định. Và để đạt được mục đích cũng như hiệu quả giao tiếp, con người cần phải chấp hành theo tám yếu tố có liên quan đến sự kiện giao tiếp như trên.
Quan hệ giao tiếp Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tác động lẫn nhau thông qua các diễn ngôn của những người tham gia giao tiếp. Trong một cuộc giao tiếp, các vai giao tiếp được đặt vào các mối quan hệ, và những mối quan hệ này đóng vai trò chi phối cả nội dung lẫn hình thức hoạt động giao tiếp. Trong cuốn “Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản”, tác giả 11 Nguyễn Văn Khang đã viết: “Để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giao tiếp phải có một mối quan hệ qua lại nhất định, đó chính là quan hệ giao tiếp.198] Quan hệ giao tiếp được tác giả chia thành hai loại chính: quan hệ quyền thế và quan hệ kết liên. Quan hệ quyền thế (quan hệ theo trục dọc) là “quan hệ trên - dưới, sang - hèn, tôn - khinh”.
Quan hệ này thể hiện vị thế xã hội giữa những người tham gia giao tiếp. Sự không bình đẳng về vị thế, trước hết là những vấn đề của ngữ cảnh: tuổi tác, giới tính, địa vị, vai trò trong hội thoại, sự làm chủ ngôn ngữ… Trong gia đình, đó là những người bậc trên và những người bậc dưới (ông bà - cháu chắt; bố mẹ - con cái; chú, dì, cô, bác - cháu.); là quan hệ giữa người sinh trước và sinh sau trong cùng một thế hệ như anh / chị - em. Trong quan hệ xã hội, đó là quan hệ giữa thủ trưởng - nhân viên, giữa người ít tuổi với người nhiều tuổi và ngược lại. Nhìn chung, loại quan hệ này căn cứ chủ yếu vào các yếu tố: tuổi tác, địa vị, thứ bậc để phân vai.
Quan hệ kết liên (quan hệ theo trục ngang) là “quan hệ ngang bằng, là một sự sẻ chia giữa mọi người ở mức độ gần gũi, thân mật.199 - 200] Sự thân tình hay xa lạ tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau. Chẳng hạn quan hệ giữa bố mẹ - con cái thường gắn bó, gần gũi hơn quan hệ ông bà - cháu chắt. Vị thế xã hội và mức độ thân cận có ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung, hình thức và cả quá trình giao tiếp. Vị thế xã hội không đồng nhất với vị thế giao tiếp (vai trò, vị thế của nhân vật tham gia hội thoại).
Trong giao tiếp, quan hệ quyền thế và quan hệ kết liên có sự hòa trộn vào nhau một cách mật thiết chứ không hề tách rời nhau. Cùng một quan hệ quyền thế (người nói ở vị thế cao, người nghe ở vị thế thấp) nhưng nếu mức độ thân - sơ giữa họ khác nhau thì cách sử dụng ngôn từ biểu thị quan hệ vai cũng khác nhau. Chúng tôi sẽ vận dụng lí thuyết này để xem xét các mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, từ đó định dạng vai giao tiếp của các nhân vật dựa trên sự xác lập từ cặp vai tương ứng với đối tượng giao tiếp. Một số vấn đề về lý thuyết hội thoại 1.
Khái niệm hội thoại Hội thoại là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và hiện nay ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia đều bàn đến hội thoại. Ở Việt Nam, kế thừa những thành quả 12 của ngôn ngữ học thế giới hội thoại trở thành vấn đề nghiên cứu quan trọng của ngôn ngữ học ứng dụng. Nguyễn Thiện Giáp: “Giao tiếp hội thoại là hình thức cơ bản của ngôn ngữ. Giao tiếp hội thoại luôn có sự hồi đáp giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau.” Theo Đỗ Hữu Châu “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác”.
Vận động hội thoại Trong bất cứ cuộc thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: 1. Sự trao lời Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời. Nếu dùng kí hiệu Sp để chỉ người tham gia vào hội thoại, Sp1 là vai nói, Sp2 là vai nghe. Sp1, Sp2 và Spn là các đối tác hội thoại thì trao lời là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho Sp2.
Sự trao đáp (exchange) Cuộc hội thoại chính thức hình thành khi Sp2 nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của Sp1.