phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương 4 tiết. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. NỘI DUNG CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA C. MÁC VỀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.
Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm “động lực” Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do Hoàng Phê chủ biên thì động lực là “cái thúc đẩy, làm cho phát triển” [56, tr. Theo Aphannaxep thì, động lực là “nút bấm của hành động”, là “huyệt” mà sự tác động vào sẽ gây ra phản ứng nhanh nhạy nhất của cơ thể xã hội” [61, tr. Cho nên, chỉ thuần túy riêng về mục đích của động lực thì khái niệm này gần nghĩa với kích thích, đòn bẩy.
Do tính khách quan của mối liên hệ phổ biến, nên mọi sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển luôn có những yếu tố tác động vào, trong đó có những yếu tố tác động làm kìm hãm sự phát triển (tức là trở lực) và cũng có những yếu tố tác động vào làm thúc đẩy sự phát triển (tức là động lực). Quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng mang tính khách quan, cho nên động lực cũng mang tính khách quan, tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể thì bản thân các yếu tố tác động vào sự vật, hiện tượng cũng mang tính lịch sử cụ thể, có thể lúc này, nơi này là động lực, nhưng cũng yếu tố đó ở nơi khác, lúc khác không phải là động lực, thậm chí có thể trở thành trở lực. Khi cách mạng Tháng 10 Nga thành công, để huy động, phát huy mọi tiềm lực kinh tế và sức mạnh của đất nước, V.Lê-nin đã thi hành chính sách cộng sản thời chiến và chính sách này đã phát huy tác dụng to lớn giúp nhà nước Nga lúc bấy giờ chiến thắng thù trong giặc ngoài, bảo vệ được thành quả cách mạng. Tuy nhiên, khi thù trong giặc ngoài qua đi thì chính sách cộng sản thời chiến lại chính là yếu tố cản trở sự phát triển kinh tế nói riêng và đất nước 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung, chính sách này đã phản tác dụng và không còn phù hợp nên V.Lê-nin đã phải thay thế bằng chính sách kinh tế mới (NEP).
Mọi sự vật, hiện tượng có những kết cấu, những mặt, những yếu tố làm nên tính chỉnh thể của sự vật hiện tượng đó. Động lực tác động có thể tác động vào một mặt, một yếu tố nào đó hay tác động vào tất cả các mặt, các yếu tố của sự vật hiện tượng đó và như vậy, sự tác động này tạo thành hệ thống các động lực. Hệ thống này cũng có tính chỉnh thể trong quá trình tác động vào sự vật, hiện tượng đó, tùy theo từng tiêu chí và góc độ tiếp cận khác nhau mà trong hệ thống động lực đó, có các động lực chủ yếu và động lực thứ yếu, động lực bên trong và động lực bên ngoài, động lực trực tiếp và động lực gián tiếp. Việc xác định đúng các động lực, nhất là các động lực chủ yếu để từ đó có cơ chế tác động phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy nhanh tiến trình vận động theo hướng đi lên của sự vật, hiện tượng.
Vậy, vấn đề là xác định động lực hay hệ thống động lực ấy như thế nào, theo Giáo sư Lê Hữu Tầng cho rằng: “tìm động lực của sự phát triển là tìm cái thúc đẩy sự phát triển khi bản thân sự phát triển đó đã có, đã nảy sinh” [63, tr. Sự vật hiện tượng trong quá trình vận động và phát triển của mình, động lực của sự vận động và phát triển trong triết học Mác-Lê nin cho rằng: động lực của sự vận động và phát triển chính là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập. Như vậy, động lực là nhân tố làm nguồn gốc thúc đẩy sự vận động và phát triển, nhân tố đó là sự thống nhất giữa nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài trong đó nhân tố bên trong đóng vai trò quyết định nhân tố bên ngoài đóng vai trò quan trọng. Sự thống nhất này bao hàm cả mâu thuẫn, các nhân tố ấy có thể có những nhân tố ngược nhau hoặc không cùng hướng tác động nhưng hợp lực thì lại thì nhân tố ấy chiếm ưu thế và thắng tất cả lực cản tạo nên sự vận động và phát triển.
Nó là nhân tố tác động tích cực thúc đẩy quá trình biến đổi làm sự vật, hiện tượng xuất hiện cái mới về chất. Trong quá 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, động lực là cái thúc đẩy quá trình phát triển nội tại, đó là một quá trình thống nhất và đấu tranh giải quyết mâu thuẫn nội tại của sự vật hiện tượng. Như vậy, theo chúng tôi: Động lực là yếu tố kích thích sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Do đó, động lực là chất “xúc tác” trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Động lực khác nguồn lực, nếu như nguồn lực là c¸c yếu tố tham gia vµo viÖc cấu thành nên sự vật, hiện tượng còn động lực chỉ là “chất xúc tác” tham gia vào quá trình vận động của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, trên nhiều phương diện, cách phân chia như vậy cũng chỉ mang tính chất tương đối, bởi vì nhiều khi xét trong hoàn cảnh này, mối quan hệ này thì là động lực, nhưng xét trong mối quan hệ khác hoàn cảnh khác lại là nguồn lực. Để tìm ra được động lực của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, trước hết, cần tìm hiểu tính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng - hay kết cấu nội tại của chúng, trong quá trình vận động và phát triển, cái tác động vào các kết cấu và làm thúc đẩy nhanh quá trình biến đổi ấy chính là động lực của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Khái niệm động lực phát triển kinh tế theo quan điểm duy vật cña C.M¸c Để duy trì và nâng cao chất lượng đời sống của mình, con người phải tiến hành sản xuất của cải vật chất.
Nếu không có sản xuất thì xã hội sẽ tiêu vong. Vì thế, sản xuất của cải vật chất là hành động lịch sử mà con người phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ từ ngàn vạn năm trước cũng như hiện nay và mai sau. Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại của bản thân, mà còn thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất những quan hệ xã hội của mình. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sản xuất vật chất là quá trình hoạt động có mục đích của con người, là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên tạo ra của cải vật chất phục vụ con người và xã hội.Mác đã từng nói: “Sản xuất chẳng qua chỉ là sự phát triển lực lượng sản xuất của loài người, tức sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân” [46, tr.
Đồng thời, con người không thể tiến hành sản xuất có hiệu quả khi tiến hành một cách riêng rẽ, đơn lẻ, mà phải kết hợp với nhau, quan hệ tác động qua lại với nhau trong quá trình sản xuất. Và trong quá trình sản xuất này, con người không chỉ tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại của bản thân, mà còn thực hiện quá trình tái sản xuất những quan hệ của mình, những quan hệ sản xuất.Mác viết “Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là quan hệ xã hội, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định” [35, tr.
Và như vậy, để tiến hành sản xuất con người đã hình thành hai mối quan hệ: quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người. Điều này được C.Mác khẳng định bằng luận điểm như sau: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những mối quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội” [36, tr. Như vậy, kinh tế là hoạt động sản xuất vật chất diễn ra với hai mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người trong một giai 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoạn lịch sử nhất định.
Điều này đã được C.Mác và Ăngghen đã phát biểu: “Chúng tôi hiểu các quan hệ kinh tế-mà chúng tôi coi là cơ sở quyết định của lịch sử xã hội-là phương thức mà con người của một xã hội nhất định dùng để sản xuất ra những tư liệu để sinh sống và trao đổi vật phẩm với nhau” [49, tr. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên gọi là lực lượng sản xuất, mối quan hệ giữa con người với con người gọi là quan hệ sản xuất, đây là hai mặt, hai yếu tố cấu thành của kinh tế, của hoạt động sản xuất vật chất của con người, hai mặt này vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau. Lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ của nó qua công cụ sản xuất, điều này đã được C.Mác khẳng định: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động nào” [41, tr. Trong lịch sử phát triển công cụ sản xuất của con người từ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, cơ khí, nửa tự động và đến bây giờ là tự động hóa.
Công cụ sản xuất của con người đã có ba bước thay đổi về chất đó là từ đồ đá lên kim loại thủ công, từ kim loại thủ công lên cơ khí, từ cơ khí lên tự động hóa.