Chương 1 – Giới thiệu đề tài nghiên cứu, nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu, ý nghĩa, điểm mới và kết cấu của đề tài. Chương 2 – Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây, trình bày cơ sở lý thuyết về kiệt quệ tài chính cũng như các mô hình và kết quả nghiên cứu thực nghiệm về dự báo kiệt quệ tài chính trên thế giới. Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu sẽ lựa chọn mô hình kết hợp các yếu tố tài chính, yếu tố thị trường và yếu tố vĩ mô để dự báo kiệt quệ tài chính cho các doanh nghiệp Việt Nam. Chương 3 – Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, đề cập chi tiết về dữ liệu và phương pháp nghiên cứu bao gồm: dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và các biến sử dụng trong mô hình, kỳ vọng về dấu của các yếu tố dự báo, các bước thực hiện nghiên cứu và các thước đo giúp đo lường khả năng dự báo kiệt quệ tài chính của mô hình.
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu, trình bày kết quả nghiên cứu. Đầu tiên, bài nghiên cứu trình bày kết quả dự báo xác suất xảy ra kiệt quệ tài chính các doanh nghiệp Việt Nam và xác định giá trị điểm cắt của mô hình. Tiếp theo, tác giả đo lường mức độ phù hợp của mô hình bằng cách tiến hành đo lường khả năng dự báo kiệt quệ tài chính của các yếu tố dự báo và xác định mức độ dự báo chính xác của mô hình. Cuối cùng, tác giả so sánh khả năng dự báo kiệt quệ tài chính của mô hình so với các mô hình khác để kiểm tra xem liệu mô hình kết hợp các yếu tố tài chính, yếu tố thị trường và yếu tố vĩ mô có hiệu quả hơn không.
Chương 5 – Kết luận, tóm tắt kết quả nghiên cứu đã đạt được cũng như những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khung lý thuyết về kiệt quệ tài chính Theo các quan điểm phổ biến, kiệt quệ tài chính là trạng thái mà một doanh nghiệp không thể đáp ứng hoặc đáp ứng một cách khó khăn các nghĩa vụ tài chính của mình đối với các chủ nợ. Theo đó, các trạng thái của kiệt quệ tài chính bao gồm: thất bại, mất khả năng thanh khoản, vỡ nợ, phá sản và giải thể. Tuy nhiên, trong thực tế những trạng thái này rất khó có thể quan sát thấy (Hashi, 1997).
Do hạn chế trong dữ liệu sẵn có nên quan điểm về kiệt quệ tài chính có sự khác biệt giữa các nhà nghiên cứu. Trong phần này, bài nghiên cứu sẽ trình bày tổng quan lý thuyết về kiệt quệ tài chính bao gồm: các quan điểm về kiệt quệ tài chính, dấu hiệu nhận biết kiệt quệ tài chính, ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính.1 Các quan điểm về kiệt quệ tài chính Như đã đề cập ở trên, do hạn chế trong dữ liệu sẵn có cũng như tính đa dạng và phức tạp về các hình thức khó khăn của doanh nghiệp, việc không có ranh giới rõ ràng của các giai đoạn kiệt quệ tài chính làm cho các quan điểm về kiệt quệ tài chính có sự khác nhau giữa các nhà nghiên cứu (Wruck, 1990). Vì vậy, việc làm rõ các quan điểm về kiệt quệ tài chính để tìm ra một quan điểm kiệt quệ tài chính phù hợp nhất là rất cần thiết. Theo Atlman và Hotckis (2005), các doanh nghiệp lâm vào kiệt quệ tài chính có thể được xác định thông qua các giai đoạn khó khăn mà họ trải qua.
Có bốn giai đoạn khái quát được phát hiện trong các tài liệu nghiên cứu về kiệt quệ tài chính để phân biệt một doanh nghiệp là kiệt quệ tài chính đó là: thất bại (failure), mất thanh khoản (insolvency), vỡ nợ (default) và phá sản (Bankruptcy). Thất bại Thất bại được dùng như một khái niệm tổng hợp về kiệt quệ tài chính trong các bài nghiên cứu trước đây, thất bại (failure) gồm những tình trạng sau: tỷ suất sinh lợi cổ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 phiếu của doanh nghiệp bị âm, doanh nghiệp bị hủy niêm yết trên thị trường chứng khoán, doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ làm mất cân đối tài sản, doanh nghiệp phải tiến hành dàn xếp với chủ nợ hoặc đang trong quá trình phải thanh lý công ty. Balcaen và Ooghe (2006) cho rằng tiêu chuẩn thất bại doanh nghiệp như vậy không phải là một sự phân định rõ ràng và được chọn một cách tùy ý theo mục đích nghiên cứu. Với Andrade và Kaplan (1998) đã phân chia thất bại thành hai trường hợp là thất bại do hoạt động kinh doanh không hiệu quả và thất bại do doanh nghiệp không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của mình.
Trong đó: Một doanh nghiệp được xác định là thất bại trong kinh doanh khi tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư và các thước đo tỷ suất sinh lợi khác thấp hơn giá trị trung bình của các nhà đầu tư tương đương trên thị trường, hoặc doanh thu không đủ bù đắp chi phí của doanh nghiệp (Altman và Hotchkiss, 2006). Đối với thất bại do doanh nghiệp không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của mình, Wruck (1990) cho rằng một doanh nghiệp được xác định là thất bại khi dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để đáp ứng nghĩa vụ tài chính hiện tại. Các nghĩa vụ tài chính này bao gồm việc doanh nghiệp không giải quyết được các khoản nợ đối với các chủ nợ và người lao động, hoặc các nghĩa vụ từ một sự kiện pháp lý diễn ra dai dẵng. Như vậy, một doanh nghiệp được xác định là thất bại khi gặp ít nhất một trong hai trường hợp: hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không hiệu quả so với trung bình thị trường hoặc doanh thu không đủ để bù đắp chi phí; khi doanh nghiệp không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình bao gồm nghĩa vụ nợ, nghĩa vụ pháp lý và các nghĩa vụ tài chính khác.
Tuy nhiên, thất bại cần được phân biệt với phá sản hay giải thể. Thất bại có thể là nguyên nhân hay là giai đoạn đầu của phá sản. Một doanh nghiệp thất bại có thể tránh được phá sản hay giải thể khi doanh nghiệp nổ lực vượt qua được những khó khăn gặp phải. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Mất khả năng thanh khoản Mất khả năng thanh khoản là trạng thái thường được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp đối mặt với khó khăn tài chính, bao gồm các vấn đề về tính thanh khoản và thành quả hoạt động (Altman và Hotchkiss, 2006).
Doanh nghiệp mất khả năng thanh khoản là khi doanh nghiệp có thu nhập hoạt động bị âm và hiện giá dòng tiền của doanh nghiệp ít hơn tổng giá trị các nghĩa vụ tài chính (Altman, 1983; Keating cùng cộng sự, 2005). Khi một doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn mất khả năng thanh khoản, doanh nghiệp có thể sẽ phải bán tài sản và tái phân phối thu nhập cho các chủ nợ hay là phải thực hiện thanh lý công ty (Wruck, 1990). Shrader và Hicckman (1993) xác định một doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất thanh khoản là khi doanh nghiệp không đủ khả năng để hoàn thành các nghĩa vụ tài chính bao gồm cả các khoản nợ đối với người lao động, nhà cung cấp và chủ nợ. Quan điểm trên giống với quan điểm thất bại của Wruck (1990).
Trên thực tế mặc dù thất bại do không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính và mất thanh khoản là khác nhau nhưng hai khái niệm này vẫn được sử dụng thay thế lẫn nhau, Wruck (1990). Wruck, Ross và cộng sự (2003) chia trạng thái mất thanh khoản thành hai trường hợp: mất thanh khoản do giá trị và mất thanh khoản do dòng tiền. Mất thanh khoản do giá trị xảy ra khi giá trị thị trường các tài sản của doanh nghiệp là thấp hơn so với giá trị của các khoản nợ. Mất thanh khoản do dòng tiền xảy ra khi doanh nghiệp không tạo ra đủ dòng tiền để thực hiện các nghĩa vụ tài chính hiện tại theo hợp đồng.
Trường hợp này còn được gọi là mất thanh khoản kỹ thuật. Như vậy, doanh nghiệp mất thanh khoản khi doanh nghiệp không tạo ra đủ tiền để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của mình, giá trị thị trường của các tài sản doanh nghiệp bị sụt giảm và thấp hơn giá trị các khoản nợ. Vì vậy, mất khả năng thanh khoản là một giai đoạn của kiệt quệ tài chính nhưng ở mức độ nghiêm trọng hơn so với thất bại và chưa đến mức phá sản. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Vỡ nợ Vỡ nợ là một trạng thái khác liên quan đến kiệt quệ tài chính.
Theo Altman và Hotchkiss (2005), vỡ nợ là tình trạng doanh nghiệp không thể trả được nợ gốc và lãi vay cho chủ nợ khi đến hạn, và do đó vi phạm điều kiện của hợp đồng tín dụng, dẫn đến các hành động pháp lý. Gilson và cộng sự (1990); Altman và Hotchkiss (2005) chia vỡ nợ ra thành hai trạng thái: vỡ nợ thanh toán do không thể trả được nợ gốc và lãi đến hạn; vỡ nợ kỹ thuật do doanh nghiệp vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng. Để phân biệt giữa mất khả năng thanh khoản và vỡ nợ thường căn cứ vào thời điểm đáo hạn của nợ. Một doanh nghiệp có thể mất thanh khoản trong một thời gian dài.
Tuy nhiên chỉ đến thời điểm đáo hạn của nợ doanh nghiệp mới được xem là vỡ nợ. Phá sản Cho đến bây giờ, phá sản là một trong những khái niệm phổ biến nhất được dùng như là từ đồng nghĩa với tình trạng doanh nghiệp đang phải đối mặt với những khó khăn tài chính. Hầu hết các nghiên cứu trước đây về dự báo thất bại của các doanh nghiệp đều tập trung vào những doanh nghiệp đã đệ đơn phá sản (Beaver, 1966, 1968; Altman, 1968; Altman, Haldeman và Narayanan, 1977; Ohlson, 1980). Ross cùng cộng sự chia phá sản thành các trường hợp: phá sản theo luật định, nghĩa là một doanh nghiệp nộp đơn cho tòa án để tuyên bố phá sản; phá sản mang tính kỹ thuật, nghĩa là một doanh nghiệp không thể hoàn thành hợp đồng tín dụng theo lịch trình để trả nợ gốc và lãi; phá sản mang tính kế toán, nghĩa là giá trị sổ sách ròng của doanh nghiệp bị âm (Ross và cộng sự, 1999).
Theo Altman và Hotchkiss (2005), phá sản là việc doanh nghiệp đệ trình đơn xin phá sản chính thức đến tòa án và được tòa án phê duyệt cho phép phá sản.