chương 1: Giới thiệu nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu về “Tác động của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời” của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam. Qua đó, thấy được ý nghĩa của đề tài và làm nền tảng cho các chương tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Tổng quan lý thuyết, các biện pháp quản trị vốn luân chuyển: 2.1 Tổng quan lý thuyết vốn luân chuyển: Vốn luân chuyển được sử dụng để đo lường khả năng thanh khoản, là toàn bộ giá trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, là những tài sản tham gia vào chu kỳ kinh doanh của công ty. Vốn luân chuyển với tên gọi khác là vốn luân chuyển ròng.
Vốn luân chuyển ròng = tài sản ngắn hạn – nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn là các khoản mục trên bảng cân đối kế toán. Tài sản ngắn hạn là tài sản có thể tạo ra tiền mặt trong khoảng thời gian một năm, bao gồm các khoản: vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ còn phải trả có thời hạn thanh toán trong vòng một năm (Baveld, 2012), bao gồm các khoản: nợ phải trả cho nhà cung cấp, vay ngắn hạn, ký quỹ, thuế và khoản phải trả cho người lao động. Quản trị vốn luân chuyển rất quan trọng đối với một công ty, đặc biệt là các công ty trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và phân phối.
Đối với các công ty này, vốn luân chuyển có giá trị chiếm hơn một nửa tổng giá trị tài sản của họ (Raheman & Nasr, 2007). Quản trị vốn luân chuyển là quản trị dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp, đảm bảo công ty có đủ dòng tiền để quá trình hoạt động kinh doanh được diễn ra liên tục trên cơ sở giảm thiểu rủi ro và có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Do đó, khả năng của quản trị vốn luân chuyển tùy thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Filbeck, Krueger & Preece, 2007; Faulkender & Wang, 2006). Để duy trì các hoạt động kinh doanh của mình, công ty cần phải có nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động đầu tư của mình.
Khoản đầu tư thường tập trung vào lượng hàng hóa lưu kho (kể cả nguyên liệu thô dùng cho quá trình sản xuất hoặc các sản phầm hàng hóa dùng để bán), các khoản thu của khách hàng và khoản tiền mặt tối thiểu để doanh nghiệp tiếp tục hoạt động một cách bình thường, đó chính là tài sản ngắn hạn và có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt. Các khoản đầu tư này được tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trợ từ các khoản nợ ngắn hạn và khoản tín dụng nhận được từ nhà cung cấp (A.Preve & Sarria-Allende, 2010). Đối với những công ty có tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn tức là vốn luân chuyển dương. Điều này nghĩa là công ty sẵn có một lượng tiền mặt nhiều hơn lượng tiền mặt mà công ty cần để chi trả trong vòng 12 tháng.
Tuy nhiên, việc thặng dư vốn luân chuyển sẽ không đem lại kết quả cao vì tài sản ngắn hạn có khả năng sinh lời thấp. Đối với những công ty có tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn, lúc này vốn luân chuyển bị âm tức là công ty gặp trở ngại về khả năng thanh toán, không có đủ vốn để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn buộc công ty phải vay nợ hay bán tài sản để trang trải các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán (A.Preve & Sarria- Allende, 2010).1 Kỳ thu tiền khoản phải thu (hay còn gọi là kỳ thu tiền bình quân): Kỳ thu tiền khoản phải thu được tính từ khi sản phẩm hàng hóa của công ty được bán cho đến khi thu được tiền của khách hàng. Khi công ty áp dụng biện pháp thắt chặt tín dụng bằng cách thu hẹp kỳ thu tiền bình quân sẽ giúp công ty hạn chế rủi ro, thu được tiền nhanh chóng, cải thiện được tính thanh khoản. Nhưng nếu công ty thực hiện nới lỏng chính sách tín dụng tức kéo dài kỳ thu tiền thì sẽ làm cho doanh thu và khả năng sinh lời của công ty tăng, thu hút thêm lượng đông đảo khách hàng, có thêm nhiều đơn hàng mới, giúp công ty tiếp tục giữ mối quan hệ lâu dài với khách hàng.
Bên cạnh đó, có khả năng xảy ra trường hợp không thu hồi được nợ, các khoản nợ xấu tăng lên, công ty gặp phải khó khăn về dòng tiền và tính thanh khoản làm tăng rủi ro trong kinh doanh. Theo Wort và Zumwalt (1985) cho rằng các chương trình chiết khấu khi bán hàng sẽ khuyến khích khách hàng thanh toán sớm cho dù công ty sẵn sàng chấp nhận doanh thu thấp nhưng công ty sẽ thu được tiền mặt nhanh hơn, cải thiện tình hình thanh toán và giảm khả năng không thu được nợ từ khách hàng khi đến hạn thanh toán. Theo lý thuyết quản trị dòng tiền, kỳ thu tiền của khách hàng càng ngắn, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty sẽ tốt hơn (Churchill and Mullins, 2001; Farris and Hutchison, 2002, 2003; Stewart, 1995) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Kỳ luân chuyển hàng tồn kho: Là thời gian trung bình cần thiết để đưa nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm cuối cùng và bán cho người tiêu dùng (A.Preve & Sarria-Allende, 2010). Hàng tồn kho là tài sản mà công ty dự trữ để cung cấp kịp thời cho khách hàng.
Tuy nhiên, khi lượng hàng hóa tồn kho vẫn giữ ở mức cao sẽ giúp doanh nghiệp tránh được ngưng trệ trong quá trình sản xuất, tránh những khoản lỗ trong kinh doanh do thiếu hụt hàng hóa, chi phí vận chuyển giảm, giảm rủi ro và tránh được sự biến động về giá nhưng sẽ phát sinh các chi phí như chi phí bảo quản, chi phí lưu kho. Nếu hàng tồn kho giữ ở mức thấp sẽ giúp công ty giảm bớt chi phí quản lý, giải phóng được lượng tiền mặt để có thể tái đầu tư nhằm gia tăng doanh thu. Mặc dù giảm lượng hàng tồn kho có thể có lợi và cũng có hại, nhưng các tác giả nghiên cứu trước cho rằng khi công ty lưu giữ ít hàng tồn kho thì sẽ cải thiện được tính thanh khoản cũng như khả năng sinh lời của công ty (Capkun et al, 2009); (Chen et al, 2005); (Koumanakos, 2008); (Swamidass, 2007). Ngày nay, có nhiều biện pháp để kiểm soát hàng tồn kho hiệu quả, tính toán mức tồn kho hợp lý đáp ứng được nhu cầu của khách hàng (Milgrom and Roberts, 1988).3 Kỳ thanh toán khoản phải trả (hay gọi là kỳ trả tiền bình quân): Kỳ thanh toán khoản phải trả là thời gian tính từ khi công ty mua hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh cho cho đến khi công ty thanh toán cho người bán.
Kỳ trả tiền cho người bán càng dài, thời gian nắm giữ tiền mặt lâu hơn sẽ cải thiện được tính thanh khoản (Stewart, 1995). Ngoài ra, nếu chu kỳ thanh toán dài, nhà cung cấp sẽ bị thiếu tiền và ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa (Raghavan and Mishra, 2011). Tuy nhiên, khi công ty được mở rộng chu kỳ thanh toán, công ty sẽ không nhận được khoản chiết khấu thanh toán sớm vả sẽ ảnh hưởng đến vị thế và uy tín của công ty (Fawcett et al. Theo Deloof (2003), Garcia- Teruel và Martinez-Solano (2007) cho rằng kỳ phải trả người bán càng ngắn thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty cao hơn.4 Chu kỳ luân chuyển tiền mặt: Một chỉ tiêu dùng để đo lường khả năng quản trị vốn luân chuyển là chu kỳ luân chuyển tiền mặt (cash conversion cycle – CCC) do (Richards & Laughlin, 1980) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Chu kỳ luân chuyển tiền mặt gồm kỳ thu tiền khoản phải thu, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thanh toán khoản phải trả Chu kỳ luân Kỳ thu tiền khoản Kỳ luân chuyển Kỳ thanh toán = + - chuyển tiền mặt phải thu hàng tồn kho khoản phải trả Các nhà quản lý sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền mặt để đánh giá khả năng quản trị vốn luân chuyển trong chu kỳ hoạt động kinh doanh của công ty. Chu kỳ luân chuyển tiền mặt bắt đầu khi công ty mua nguyên liệu, vật liệu dùng để sản xuất, bán sản phẩm và đến khi thu tiền của khách hàng (Sathyamoorthi và Walley-Dima, 2008). Mua hàng lưu kho Bán hàng lưu (NVL, hàng hóa) kho Kỳ thu tiền Thời gian lưu khoản phải thu kho Thời gian Kỳ thanh toán Chu kỳ luân khoản phải trả chuyển tiền mặt Trả tiền mua hàng Thu tiền bán hàng Chu kỳ hoạt động kinh doanh Hình 2. 1: Đường biểu diễn thời gian của dòng tiền và hoạt động kinh doanh ngắn hạn của doanh nghiệp (Nguồn: Tài chính doanh nghiệp, Vũ Việt Quảng, 2017, Trang 884) 2.2 Các giải pháp quản trị vốn luân chuyển: 2.1 Quản trị hàng tồn kho: Công việc kiểm soát hàng tồn kho thực sự là công việc quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bởi lẽ giá trị tồn kho chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng giá trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
Mục đích kiểm soát hàng tồn kho là kiểm soát và đầu tư vào hàng tồn kho có hiệu quả. Các nhà quản lý cần lập kế hoạch rõ ràng, cụ thể nhu cầu của từng loại hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu tồn kho phù hợp với từng nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Bởi vì khoản dự trữ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được liên tục, nhằm phòng ngừa rủi ro khi có biến cố bất thường xảy ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Một trong những mô hình kiểm soát hàng tồn kho mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp chính là mô hình EOQ (Economic Order Quantity).
Mô hình EOQ được thể hiện ở hình 2.2 trong đó: C: chi phí tồn trữ Q: số lượng hàng hóa tồn kho S: số lượng hàng hóa phân phối, tiêu thụ O: chi phí cho mỗi lần mua hàng Chi phí Q* (mức hàng hóa tối ưu) Qui mô mua hàng Hình 2.