Tổng quan nghiên cứu

Kỹ thuật ghép mô và bộ phận cơ thể người là một trong những thành tựu y học vĩ đại nhất của nhân loại, mở ra cơ hội sống cho hàng triệu bệnh nhân suy tạng giai đoạn cuối. Tại Việt Nam, kể từ ca ghép thận đầu tiên được thực hiện thành công vào năm 1992, đến nay cả nước đã có 17 cơ sở y tế đủ điều kiện ghép tạng với hơn 2.500 ca phẫu thuật được triển khai. Tuy nhiên, thực trạng khan hiếm nguồn tạng hiến đang đặt ra thách thức vô cùng gay gắt: hiện có khoảng 6.000 người suy thận mãn đang chờ ghép thận, hơn 1.500 người có chỉ định ghép gan, 300.000 người mù do bệnh lý giác mạc và trên 6.000 bệnh nhân chờ ghép giác mạc. Dù khung pháp lý đã được thiết lập qua Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, số lượng người đăng ký hiến tạng sau chết não tại Việt Nam vẫn ở mức rất thấp do các rào cản về tâm lý xã hội và thiếu hụt thông tin.

Xuất phát từ thực tiễn trên, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển (Kinh tế và Quản trị lĩnh vực sức khỏe) tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã thực hiện đề tài nghiên cứu nhằm xác định mức độ tác động của kiến thức và thái độ đối với ý định hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người. Nghiên cứu được triển khai trong năm 2018 tại hai cơ sở y tế tuyến đầu là Bệnh viện Bình Dân và Bệnh viện Nhân dân 115 tại TP. Hồ Chí Minh. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc, giúp các nhà hoạch định chính sách y tế thiết kế những giải pháp can thiệp hành vi phù hợp nhằm gia tăng tỷ lệ sẵn sàng hiến tạng từ cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết hành vi kinh điển: Thuyết hành động hợp lý (TRA) của Fishbein và Ajzen năm 1975 và Thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen năm 1991. Thuyết TPB khẳng định rằng ý định hành vi chịu sự chi phối trực tiếp từ thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong nghiên cứu này, yếu tố kiểm soát hành vi được đo lường thông qua mức độ hiểu biết và kiến thức của cá nhân về quy trình hiến tạng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm cốt lõi theo Luật số 75/2006/QH11 của Quốc hội Việt Nam, bao gồm: mô, bộ phận cơ thể người, quy định về chết não, ngân hàng mô và nguyên tắc tự nguyện, phi thương mại hóa trong hiến ghép tạng. Mô hình nghiên cứu kế thừa các thang đo chuẩn hóa từ các công trình quốc tế của Schaeffner năm 2004, Arriola năm 2008, Irving năm 2012 và Vijayalakshmi năm 2016, thiết lập mối quan hệ giữa biến phụ thuộc là Ý định hiến mô, bộ phận cơ thể với hai biến độc lập cốt lõi là Kiến thức và Thái độ, cùng các biến kiểm soát nhân khẩu học gồm tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tôn giáo và dân tộc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu sơ cấp thu thập thông qua bảng hỏi khảo sát trực tiếp tại Bệnh viện Bình Dân và Bệnh viện Nhân dân 115 TP. Hồ Chí Minh. Cỡ mẫu tối thiểu được tính toán dựa trên công thức của Green năm 1991 đối với mô hình hồi quy đa biến có 8 nhóm biến độc lập, yêu cầu quy mô tối thiểu đạt 114 quan sát. Tác giả đã phát ra 250 phiếu khảo sát và thu về 205 phiếu; sau khi sàng lọc loại bỏ các phiếu không hợp lệ, cỡ mẫu chính thức đưa vào xử lý là 147 quan sát, đạt tỷ lệ phản hồi hoàn chỉnh 58,8%.

Quy trình xử lý dữ liệu được tiến hành khoa học qua ba bước chính trên phần mềm thống kê Stata:

  • Kiểm định độ tin cậy thang đo: Sử dụng hệ số Cronbach's Alpha để đánh giá thang đo thái độ gồm 20 biến quan sát theo thang Likert 5 điểm, đảm bảo các biến có hệ số tương quan biến tổng trên 0,3 và Alpha tổng thể đạt trên 0,6.
  • Đo lường biến số: Thang đo kiến thức gồm 12 câu hỏi trắc nghiệm Đúng/Sai với điểm số dao động từ 0 đến 12 điểm. Biến phụ thuộc Ý định hiến nhận giá trị nhị phân bằng 1 nếu người trả lời chắc chắn hoặc có thể đăng ký, bằng 0 nếu không có ý định hoặc phân vân.
  • Phân tích hồi quy Binary Logistic: Lựa chọn phương pháp hồi quy Binary Logistic đa biến là phương án tối ưu để ước lượng xác suất xảy ra biến cố nhị phân, khắc phục hoàn toàn nhược điểm vi phạm giả định phân phối chuẩn của phần dư trong mô hình hồi quy tuyến tính OLS thông thường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người thực sự có ý định hiến mô, bộ phận cơ thể chỉ chiếm 26,53% (tương ứng 39 người), trong khi nhóm không có ý định hoặc còn do dự chiếm đa số với 73,47% (108 người). Khi xem xét chi tiết mức độ sẵn sàng, chỉ có 7,48% người khẳng định chắc chắn sẽ đăng ký hiến tạng, 19,05% cho biết có thể sẽ đăng ký, trong khi có tới 37,41% chưa quyết định được và 36,05% nghiêng về việc từ chối.

Về mức độ hiểu biết, điểm kiến thức trung bình của mẫu khảo sát đạt 8,7/12 điểm. Đáng chú ý, kiến thức có sự phân hóa rõ nét theo trình độ học vấn: nhóm tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học đạt điểm trung bình cao nhất với 9,47 điểm, nhóm tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 8,45 điểm và nhóm chưa tốt nghiệp phổ thông đạt 7,06 điểm. Nữ giới thể hiện mức độ am hiểu cao hơn nam giới với điểm số lần lượt là 9,04 điểm so với 8,34 điểm.

Kết quả phân tích hồi quy Binary Logistic đa biến đã làm rõ các yếu tố quyết định ý định hành vi:

  • Thái độ đối với việc hiến tạng có tác động thuận chiều và mang ý nghĩa thống kê cao nhất đến ý định hiến mô, bộ phận cơ thể. Những cá nhân sở hữu thái độ tích cực, tin tưởng vào giá trị nhân đạo của hành vi hiến tạng có xác suất đăng ký hiến cao hơn vượt trội.
  • Yếu tố tôn giáo thể hiện vai trò thúc đẩy rõ rệt: người theo đạo Phật (chiếm 22,45% mẫu khảo sát) có xác suất đưa ra ý định hiến tạng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm người không theo tôn giáo (chiếm 66,67% mẫu).
  • Tình trạng hôn nhân tạo ra sự khác biệt hành vi: người đã kết hôn (chiếm 44,9% mẫu) có xu hướng sẵn sàng hiến tạng cao hơn đáng kể so với nhóm độc thân hoặc đã ly hôn (chiếm 55,1% mẫu).
  • Các biến số nhân khẩu học khác như độ tuổi trung bình 30,2 tuổi, giới tính, học vấn, dân tộc cũng như biến kiến thức không thể hiện tác động trực tiếp mang ý nghĩa thống kê lên ý định hiến trong mô hình hồi quy tổng thể.

Thảo luận kết quả

Kết quả hồi quy khẳng định thái độ chính là động lực then chốt định hình ý định hành vi, hoàn toàn nhất quán với khung lý thuyết TPB của Ajzen và các nghiên cứu của Schaeffner năm 2004, Arriola năm 2008 cùng Irving năm 2014. Khi một cá nhân hình thành niềm tin vững chắc rằng hiến tạng là hành động cứu sống đồng loại và quy trình y tế được tiến hành minh bạch, sự e ngại về việc cơ thể không nguyên vẹn sau khi mất sẽ được giải tỏa, từ đó kích hoạt quyết định đăng ký hiến tặng.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh mối tương quan đặc thù tại Việt Nam: giáo lý từ bi, cứu khổ cứu nạn của đạo Phật tạo bối cảnh thuận lợi củng cố động lực vị tha, tương đồng với phát hiện của Webb năm 2015. Bên cạnh đó, việc nhóm người đã lập gia đình có ý định hiến tạng cao hơn phù hợp với nghiên cứu của Galanis năm 2008, phản ánh trách nhiệm gia đình và sự thấu cảm sâu sắc hơn đối với sự mất mát của các gia đình có người thân mắc bệnh hiểm nghèo.

Trong báo cáo phân tích, các phát hiện này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu 26,53% người có ý định hiến tạng, kết hợp với bảng so sánh chéo đa chiều mô tả mối tương quan giữa điểm số thái độ và tỷ lệ sẵn sàng hiến theo từng nhóm tôn giáo và tình trạng hôn nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ nhằm thúc đẩy tỷ lệ đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể:

  • Đổi mới chiến dịch truyền thông thay đổi thái độ xã hội: Bộ Y tế phối hợp với các cơ quan báo chí xây dựng các chương trình truyền thông giàu tính nhân văn, tập trung lan tỏa thông điệp "Hiến tạng cứu người - Trao tặng sự sống" thay vì chỉ cung cấp thông tin y khoa khô khan. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ thái độ tích cực trong cộng đồng từ mức 60% hiện nay lên trên 80% trong giai đoạn 2024 - 2026.
  • Tận dụng vai trò của các tổ chức tôn giáo: Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người cần chủ động phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức các buổi tọa đàm chuyên đề về hiến tạng tại các cơ sở tự viện. Mục tiêu là gia tăng tỷ lệ đăng ký hiến tạng từ cộng đồng Phật tử thêm ít nhất 25% trong vòng 18 tháng.
  • Xây dựng chương trình vận động theo đơn vị gia đình: Các bệnh viện và trung tâm y tế triển khai chương trình tư vấn truyền thông hướng đến các cặp vợ chồng tại các câu lạc bộ gia đình và trạm y tế phường xã. Mục tiêu giúp hơn 40% hộ gia đình được tiếp cận thông tin đồng thuận với quyết định hiến tạng của thân nhân trong vòng 2 năm tới.
  • Minh bạch hóa quy trình điều phối và mở rộng chính sách đãi ngộ: Bộ Y tế hoàn thiện cổng thông tin điện tử công khai danh sách chờ ghép theo thứ tự ưu tiên của Luật 75/2006/QH11; đồng thời mở rộng chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí trọn đời, hỗ trợ y tế định kỳ và tôn vinh xứng đáng người hiến tạng và gia đình họ trong vòng 12 tháng tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho bốn nhóm độc giả chuyên ngành:

  • Cơ quan hoạch định chính sách y tế: Cán bộ quản lý tại Bộ Y tế, Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh và Trung tâm Điều phối Ghép tạng Quốc gia sử dụng dữ liệu định lượng của luận văn để điều chỉnh chiến lược truyền thông sức khỏe cộng đồng và hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan.
  • Ban lãnh đạo bệnh viện và mạng lưới điều phối viên ghép tạng: Đội ngũ y bác sĩ tại các bệnh viện có trung tâm ghép mô tạng có thể tham khảo bảng hỏi chuẩn hóa và mô hình phân tích để xây dựng quy trình tiếp cận, tư vấn tâm lý hiệu quả cho thân nhân người bệnh chết não.
  • Giảng viên và học viên cao học ngành Kinh tế Y tế, Quản trị Sức khỏe: Luận văn là tài liệu mẫu mực về phương pháp nghiên cứu định lượng ứng dụng mô hình Binary Logistic và lý thuyết hành vi TPB trong việc giải quyết bài toán phân bổ nguồn lực y tế công.
  • Các tổ chức xã hội và chuyên gia truyền thông cộng đồng: Đơn vị truyền thông phi lợi nhuận có thể khai thác các rào cản tâm lý và niềm tin tôn giáo được chỉ ra trong nghiên cứu để thiết kế các chiến dịch vận động xã hội sát thực tiễn.

Câu hỏi thường gặp

  • Biến số nào tác động mạnh mẽ nhất đến ý định hiến mô, bộ phận cơ thể người trong nghiên cứu? Kết quả hồi quy Binary Logistic khẳng định thái độ đối với việc hiến tạng là nhân tố có tác động tích cực và mạnh mẽ nhất đến ý định hành vi. Những cá nhân có nhận thức đúng đắn và thái độ tích cực về giá trị nhân đạo sẽ có xác suất quyết định đăng ký hiến tạng cao hơn hẳn so với những người có tâm lý hoài nghi hoặc lo ngại về quy trình y tế.

  • Tại sao yếu tố kiến thức lại không có tác động trực tiếp đến ý định hiến tạng trong mô hình hồi quy? Dù điểm kiến thức trung bình của người dân đạt 8,7/12 điểm, kiến thức chỉ đóng vai trò điều kiện cần giúp người dân hiểu quy trình chứ không đủ để tạo ra động lực thúc đẩy hành vi nếu thiếu đi sự chuyển hóa thành niềm tin và thái độ nhân ái, lòng vị tha đối với cộng đồng.

  • Tôn giáo có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định hiến mô, bộ phận cơ thể tại TP. Hồ Chí Minh? Nghiên cứu chỉ ra rằng người theo đạo Phật có xác suất đưa ra ý định hiến tạng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với người không theo tôn giáo. Triết lý khuyến khích việc bố thí, cứu người của Phật giáo đã tạo nên nền tảng tâm lý vững chắc thúc đẩy người dân thực hiện nghĩa cử cao đẹp.

  • Tỷ lệ người dân thực sự có ý định đăng ký hiến tạng trong mẫu nghiên cứu là bao nhiêu? Trong tổng số 147 người được khảo sát hợp lệ tại hai bệnh viện, có 39 người thể hiện ý định sẵn sàng hiến tạng, chiếm tỷ lệ 26,53%. Trong đó, tỷ lệ chắc chắn đăng ký chiếm 7,48% và có thể sẽ đăng ký chiếm 19,05%, cho thấy nguồn cung hiến tạng tiềm năng vẫn còn rất lớn nếu được truyền thông đúng cách.

  • Quy mô mẫu 147 quan sát có đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy khoa học không? Cỡ mẫu 147 quan sát hoàn toàn đáp ứng công thức kinh nghiệm của Green năm 1991 đối với mô hình hồi quy 8 biến số (yêu cầu tối thiểu 114 mẫu). Quy trình chọn mẫu thuận tiện tại hai bệnh viện lớn đại diện cho môi trường y khoa đô thị đã đảm bảo tính tin cậy cao cho các kiểm định thống kê.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích thành công thực trạng ý định hiến mô, bộ phận cơ thể người tại TP. Hồ Chí Minh với tỷ lệ sẵn sàng đạt 26,53%.
  • Điểm số kiến thức trung bình của người dân đạt 8,7/12 điểm, trong đó học vấn và giới tính tạo ra sự khác biệt đáng kể về mức độ hiểu biết.
  • Mô hình hồi quy Binary Logistic chứng minh thái độ tích cực, tôn giáo (Phật giáo) và tình trạng hôn nhân là ba nhân tố quyết định gia tăng xác suất hiến tạng.
  • Nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận vững chắc, mở rộng ứng dụng thuyết TPB vào lĩnh vực quản trị sức khỏe và phân bổ nguồn lực y tế tại Việt Nam.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp can thiệp hành vi toàn diện nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thiếu hụt tạng hiến trong giai đoạn 2024 - 2026.

Các nhà quản lý y tế và các cơ sở khám chữa bệnh cần khẩn trương áp dụng những khuyến nghị từ nghiên cứu, chủ động đổi mới thông điệp truyền thông và chuẩn hóa quy trình điều phối để cứu sống thêm hàng ngàn người bệnh đang từng ngày chờ đợi nguồn tạng hiến.