Tổng quan nghiên cứu

Thị trường viễn thông di động Việt Nam giai đoạn 1992-2012 đã tạo nên một kỳ tích tăng trưởng kinh tế đặc biệt, chuyển biến từ mức khởi điểm sơ khai chỉ có 800 thuê bao di động vào năm 1992 thành một mạng lưới bùng nổ với 135 triệu thuê bao vào năm 2012, tương đương mật độ thâm nhập đạt 147,7 thuê bao trên 100 dân. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi xuất phát từ thực trạng nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động kém hiệu quả và rơi vào khủng hoảng sâu sắc trong bối cảnh cạnh tranh mở cửa, tiêu biểu như sự sụp đổ của Vinashin hay Vinalines. Ngược lại, ngành viễn thông di động lại chứng kiến sự vươn lên ngoạn mục của hai doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel).

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình chuyển dịch cấu trúc thị trường từ độc quyền thuần túy sang cạnh tranh lành mạnh, phân tích nguyên nhân tạo nên sự thành công vượt bậc của Viettel trước đối thủ truyền thống VNPT, đồng thời rút ra các bài học quản trị và hàm ý chính sách công cho nền kinh tế Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ thị trường viễn thông di động Việt Nam trong suốt hai thập kỷ từ năm 1992 đến năm 2012.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được lượng hóa rõ rệt qua lợi ích kinh tế – xã hội: giá cước gọi di động nội mạng đã giảm mạnh từ mức đắt đỏ 8.000 đồng một phút và phí thuê bao 200.000 đồng một tháng vào năm 2000 xuống chỉ còn xấp xỉ 1.000 đồng một phút cùng cước thuê bao 49.000 đồng một tháng vào năm 2012. Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo nền tảng cho việc tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và thiết lập thể chế quản lý cạnh tranh quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kinh tế vi mô hiện đại về ngành công nghiệp có lợi thế kinh tế theo quy mô (Economies of Scale) được phát triển bởi Robert S. Pindyck, Daniel L. Rubinfeld và Geoff Riley. Trong ngành viễn thông di động, chi phí cố định ban đầu cho hạ tầng mạng lưới truyền dẫn và trạm phát sóng là cực kỳ lớn, nhưng chi phí biên để phục vụ thêm một thuê bao mới đăng nhập vào hệ thống lại xấp xỉ bằng không. Do đó, khi quy mô sản lượng thuê bao gia tăng, đường chi phí trung bình dài hạn (LRAC) sẽ dịch chuyển mạnh xuống phía dưới, tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm sâu giá bán mà vẫn gia tăng biên lợi nhuận ròng.

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết đường cong học tập hay đường nhận thức (Learning Curve / Experience Curve), phản ánh sự suy giảm chi phí đơn vị sản phẩm thông qua tích lũy kinh nghiệm quản trị và tối ưu hóa vận hành kỹ thuật. Khung phân tích thể chế điều tiết độc quyền (Regulatory Economics) cũng được áp dụng nhằm đánh giá sự can thiệp của chính phủ vào chính sách quản lý giá cước đối với các doanh nghiệp chiếm thị phần khống chế, bảo vệ doanh nghiệp mới gia nhập ngành trước nguy cơ bị loại bỏ bởi hành vi định giá hủy diệt. Ba khái niệm trung tâm tạo nên trục phân tích xuyên suốt công trình gồm có: thể chế kinh tế hỗ trợ cạnh tranh, môi trường thị trường tiếp nhận công nghệ mới, và năng lực đổi mới sáng tạo của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp phân tích tình huống thực chứng (Case Study) và phân tích lịch sử – so sánh cấu trúc thị trường theo thời gian. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ cơ sở dữ liệu chính thống của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU giai đoạn 1992-2013), các báo cáo thống kê định kỳ của Bộ Thông tin và Truyền thông, báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam, cùng các báo cáo tài chính thường niên của các doanh nghiệp viễn thông lớn như VNPT, Viettel, SPT và EVN Telecom.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn diện 100% quần thể các nhà mạng viễn thông di động được cấp phép hoạt động tại Việt Nam từ năm 1992 đến năm 2012, bao gồm mạng Callink, MobiFone, VinaPhone, Viettel, S-Fone, EVN Telecom, Beeline và Vietnamobile. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng do quy mô quần thể xác định và có tính đại diện tuyệt đối cho toàn ngành. Lý do tác giả lựa chọn phương pháp phân tích cấu trúc kết hợp chuỗi thời gian là nhằm phản ánh chân thực các biến động thể chế vi mô, sự tương tác phức tạp giữa chính sách kiểm soát giá và các quyết định đầu tư hạ tầng mà các mô hình hồi quy định lượng thuần túy khó có thể diễn giải thấu đáo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn đã nhận diện và chứng minh 4 điểm nút bước ngoặt làm thay đổi căn bản cấu trúc thị trường viễn thông di động Việt Nam. Điểm nút khởi đầu năm 1995 đánh dấu việc cấp phép cho SPT và Viettel, tạo tiền đề cạnh tranh về mặt lý thuyết dù VNPT vẫn nắm giữ 23.500 thuê bao (chiếm 100% thị phần). Điểm nút thứ hai vào cuối năm 2004 khi Viettel chính thức khai trương mạng di động với 145.000 thuê bao ban đầu, sử dụng chính sách giá cước thấp hơn 30% so với VinaPhone và MobiFone cùng phương thức tính cước linh hoạt theo block 6 giây. Điểm nút thứ ba vào đầu năm 2005 chứng kiến sự nhảy vọt về hạ tầng khi Viettel nâng số trạm thu phát sóng từ 200 trạm lên 1.200 trạm BTS, đạt quy mô tương đương từng mạng con của VNPT. Điểm nút thứ tư từ cuối năm 2005 trở đi thực sự xóa bỏ thế độc quyền thông qua việc giải quyết triệt để rào cản kết nối liên mạng.

Thứ hai, tốc độ phổ cập dịch vụ viễn thông tại Việt Nam vượt xa mức trung bình toàn cầu. Mật độ thuê bao từ mức 1,5 thuê bao trên 100 dân năm 2001 (thấp hơn nhiều so với trung bình thế giới là 15,5) đã tăng vọt lên 11,3 vào năm 2005 và đạt đỉnh 147,7 thuê bao trên 100 dân vào năm 2012, vượt qua cả mức bình quân 123,6 thuê bao của nhóm các quốc gia phát triển.

Thứ ba, thị trường diễn ra quá trình thanh lọc tự nhiên khắc nghiệt theo đúng quy luật kinh tế quy mô. Các doanh nghiệp không đạt được điểm hòa vốn hạ tầng hoặc quản trị kém hiệu quả đã nhanh chóng rơi vào thua lỗ và đào thải: EVN Telecom lỗ lũy kế hơn 1.050 tỷ đồng năm 2010 và phải chuyển giao nguyên trạng cho Viettel vào cuối năm 2011; S-Fone và Beeline lần lượt dừng hoạt động hoặc thu hẹp tối đa sự hiện diện. Thị phần giai đoạn 2008-2012 hoàn toàn bị chi phối bởi Viettel (tăng từ 34,01% lên vị thế số một) cùng hai mạng của VNPT.

Thứ tư, quá trình cạnh tranh mang lại hiệu quả kép vượt bậc cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Năm 2013, tổng doanh thu của Viettel đạt 162.886 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 26.413 tỷ đồng và nộp ngân sách nhà nước 17.586 tỷ đồng; trong khi VNPT cũng đạt tổng doanh thu 119.000 tỷ đồng và lợi nhuận 9.265 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Thành công của thị trường viễn thông di động Việt Nam là kết quả cộng hưởng giữa sự cởi mở về mặt thể chế và năng lực nội tại mang tính đột phá của doanh nghiệp. Về mặt thể chế, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông năm 2002 đóng vai trò bảo hộ quan trọng khi kiểm soát chặt chẽ giá cước của các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường (VNPT), trong khi trao quyền tự quyết định giá cước cho các tân binh như Viettel. Nhờ đó, Viettel đã có khoảng thời gian vàng 6 tháng tự do hạ giá cước để thu hút khách hàng trước khi VNPT được Bộ chủ quản phê duyệt phương án giảm giá vào ngày 01/02/2005. Quyết định số 12/2006/QĐ-BBCVT quy định về kết nối mạng công bằng tiếp tục tháo gỡ điểm nghẽn kỹ thuật sống còn.

Về phía doanh nghiệp, đội ngũ lãnh đạo Viettel đã thể hiện tư duy kinh doanh nhạy bén: tích lũy 15 triệu USD lợi nhuận từ dịch vụ gọi quốc tế VoIP 178 để làm vốn mồi, táo bạo lựa chọn công nghệ GSM tương thích với mạng hiện hữu, và tận dụng thời kỳ khủng hoảng viễn thông toàn cầu để mua trả chậm 4.000 trạm BTS. Khi thảo luận dữ liệu, bức tranh tương quan này có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường kép thể hiện sự nghịch biến giữa đường giảm giá cước cuộc gọi và đường tăng trưởng số lượng thuê bao di động giai đoạn 2004-2012, kết hợp cùng biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ thị phần hạ tầng trạm BTS giữa Viettel và VNPT. Kết quả này củng cố các luận điểm của các nghiên cứu quốc tế từ Zeng Jianqiu (2005) hay Fang Chen (2009), đồng thời bổ sung đóng góp thực tiễn sâu sắc về vai trò của lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế chuyển đổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, cải cách căn bản cơ chế tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ quản lý cấp cao tại các tập đoàn kinh tế nhà nước. Cần thiết lập quy chế thi tuyển cạnh tranh công khai, minh bạch dựa trên tiêu chuẩn đo lường năng lực kinh doanh, tư duy đổi mới và trách nhiệm cá nhân, thay thế cơ chế chỉ định hành chính truyền thống. Mục tiêu đặt ra là 100% vị trí lãnh đạo chủ chốt tại các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn phải trải qua sát hạch đề án chiến lược khả thi trước năm 2018, do Bộ Nội vụ chủ trì phối hợp cùng các bộ quản lý ngành thực hiện.

Thứ hai, duy trì và nâng cao hiệu lực của khung khổ pháp lý chống độc quyền và quản lý cạnh tranh lành mạnh. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp cùng Cục Quản lý Cạnh tranh cần tăng cường giám sát việc phân bổ băng tần số vô tuyến điện, ban hành quy định bắt buộc về dùng chung cơ sở hạ tầng thụ động (cột ăng-ten, nhà trạm, tuyến truyền dẫn) nhằm giảm 15% đến 20% chi phí đầu tư xã hội trùng lặp, áp dụng hoàn tất trong giai đoạn 2015-2017.

Thứ ba, tái cơ cấu triệt để và xử lý dứt điểm các dự án đầu tư ngoài ngành kém hiệu quả. Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các cơ quan quản lý vốn nhà nước cần hoàn thành việc thoái vốn, thanh lý tài sản hoặc sáp nhập các đơn vị thua lỗ kéo dài, tập trung nguồn lực tài chính vào các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi để nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đạt tối thiểu 15% mỗi năm, thực hiện liên tục trong lộ trình 2015-2020.

Thứ tư, chủ động mở rộng cơ chế cạnh tranh thị trường sang các ngành công ích độc quyền tự nhiên khác như ngành điện lực, phân phối xăng dầu và giao thông vận tải đường sắt. Chính phủ và Bộ Công Thương cần xây dựng lộ trình từng bước xóa bỏ trợ cấp chéo, tách bạch rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh thuần túy, hướng tới mục tiêu kéo giảm từ 10% đến 25% chi phí logistics và năng lượng toàn xã hội vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách công và cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành viễn thông, bưu chính, công nghệ thông tin. Nhóm này có thể khai thác các luận cứ khoa học để xây dựng chính sách điều tiết thị phần, cơ chế cấp phép tài nguyên tần số, và thiết kế các quy định về kết nối mạng viễn thông nhằm ngăn chặn hành vi lạm dụng vị thế thống lĩnh.

Nhóm thứ hai là các nhà quản trị doanh nghiệp và lãnh đạo cấp cao tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Nghiên cứu cung cấp bài học thực tiễn giá trị về chiến lược tích lũy nguồn vốn tự có, nghệ thuật đàm phán mua sắm tài sản quy mô lớn trong khủng hoảng, và phương thức mở rộng hạ tầng thần tốc để đạt điểm hòa vốn kinh tế theo quy mô.

Nhóm thứ ba là giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc khối ngành Kinh tế phát triển, Quản lý công, Kinh tế vi mô và Quản trị kinh doanh. Luận văn là nguồn tư liệu học thuật mẫu mực trong việc áp dụng mô hình kinh tế vi mô thực chứng vào việc giải quyết các bài toán chính sách đặc thù của nền kinh tế Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các chuyên gia phân tích thị trường, chuyên viên tư vấn chiến lược viễn thông và công nghệ số. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các chuỗi số liệu lịch sử và kinh nghiệm cạnh tranh giữa các công nghệ di động để xây dựng kịch bản ứng phó trước sự bùng nổ của các dịch vụ truyền thông trên nền tảng internet (OTT) và xu hướng chuyển dịch hạ tầng mạng thế hệ mới.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nào đóng vai trò quyết định giúp Viettel thành công vượt bậc trước VNPT? Yếu tố quyết định là sự kết hợp giữa tư duy dám nghĩ dám làm của ban lãnh đạo và việc tận dụng chính sách hỗ trợ giá của nhà nước. Viettel đã táo bạo mua chịu 4.000 trạm BTS trong bối cảnh viễn thông toàn cầu khủng hoảng, nhanh chóng đạt quy mô 1.200 trạm đầu năm 2005 để cạnh tranh trực diện với VNPT.

Tại sao công nghệ GSM lại mang lại lợi thế vượt trội cho Viettel so với CDMA của S-Fone? Công nghệ GSM giúp Viettel dùng chung hệ sinh thái thiết bị đầu cuối giá rẻ với hai mạng sẵn có là MobiFone và VinaPhone, giảm thuế nhập khẩu điện thoại còn 5% năm 2004. Nhờ đó, người tiêu dùng dễ dàng chuyển đổi mạng giữ nguyên thiết bị, giúp Viettel nhanh chóng thu hút hàng triệu thuê bao.

Vụ tranh chấp kết nối mạng năm 2005 giữa Viettel và VNPT mang lại ý nghĩa pháp lý gì? Sự can thiệp quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ và sự ra đời của Quyết định số 12/2006/QĐ-BBCVT đã phá bỏ hoàn toàn rào cản kết nối cục bộ của doanh nghiệp độc quyền. Sự kiện này bảo đảm nguyên tắc bình đẳng kỹ thuật giữa các nhà mạng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho toàn thị trường.

Tại sao EVN Telecom lại rơi vào tình trạng thua lỗ nặng và phải sáp nhập vào Viettel? Dù có lợi thế hạ tầng truyền dẫn điện lực và vốn đầu tư 2.442 tỷ đồng, EVN Telecom thiếu hụt năng lực quản trị chuyên môn viễn thông, chiến lược kinh doanh mờ nhạt và không bắt kịp cuộc đua hạ giá cước, dẫn đến mức lỗ hơn 1.050 tỷ đồng năm 2010 trước khi được bàn giao cho Viettel.

Chính sách kiểm soát giá cước theo Pháp lệnh Viễn thông năm 2002 đã bảo vệ doanh nghiệp non trẻ ra sao? Quy định buộc doanh nghiệp thống lĩnh thị trường phải xin phê duyệt khi thay đổi giá cước, trong khi cho phép doanh nghiệp mới gia nhập tự do định giá. Nhờ vậy, Viettel đã duy trì mức cước thấp hơn 30% trong gần 6 tháng đầu năm 2004-2005 mà không bị đối thủ hạ giá đè bẹp.

Kết luận

  • Thị trường viễn thông di động Việt Nam đã chứng minh tính ưu việt của cạnh tranh thị trường, đưa tỷ lệ thuê bao từ 1,5 thuê bao trên 100 dân năm 2001 lên 147,7 thuê bao năm 2012.
  • Tính kinh tế theo quy mô là quy luật kinh tế chi phối ngành, đòi hỏi doanh nghiệp phải đạt được ngưỡng hạ tầng và thuê bao tới hạn để tối ưu hóa chi phí trung bình dài hạn.
  • Thể chế quản lý nhà nước tiến bộ kết hợp cùng năng lực lãnh đạo dám đổi mới sáng tạo là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp nhà nước bứt phá thành công.
  • Sự đào thải của S-Fone, EVN Telecom và Beeline khẳng định rào cản quy mô và năng lực quản trị luôn là thách thức sống còn đối với mọi doanh nghiệp viễn thông.
  • Mô hình cạnh tranh viễn thông là bài học đắt giá cần được nhân rộng sang các lĩnh vực độc quyền công ích khác trong nền kinh tế quốc dân.

Về đóng góp học thuật và thực tiễn, luận văn đã hệ thống hóa tường tận các điểm nút lịch sử, cung cấp khung phân tích vi mô sâu sắc về động thái cạnh tranh và định giá viễn thông tại một quốc gia đang phát triển. Về lộ trình tiếp theo giai đoạn 2015-2025, các cơ quan chức năng cần hoàn thiện thể chế kinh tế số, điều tiết hiệu quả các dịch vụ xuyên biên giới và tiếp tục thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy tích cực vận dụng những bài học thành công từ thị trường viễn thông để kiến tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.