mở đầu của thị trường di động Việt Nam, hoàn toàn độc quyền quản lý và kinh doanh bởi Tổng công ty bưu chính viễn thông VNPT. Tuy nhiên với sự tham gia hội nhập khu vực và quốc tế, các nhà lãnh đạo của Việt Nam đã ý thức được vai trò của cạnh tranh và đã hình thành chủ trương thiết lập cạnh tranh cho thị trường VTDĐ Việt Nam. Điều này dẫn đến điểm nút đáng lưu ý đầu tiên trong sự phát triển của thị trường này, năm 1995: - điểm khởi đầu cạnh tranh về mặt lý thuyết của thị trường VTDĐ Việt Nam. Thị trường VTDĐ VN giai đoạn 1995 - 2003: Giai đoạn này có thể gọi là cạnh tranh về mặt lý thuyết hay tiền cạnh tranh bởi vì tuy đã có hai doanh nghiệp ngoài VNPT hoạt động trong lĩnh vực viễn thông là Viettel và SPT nhưng thực tế VNPT vẫn nắm gần như 100% thị trường viễn thông di động.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -14- SPT và Viettel đều được phép khai thác dịch vụ viễn thông di động từ năm 1995 nhưng do rào cản gia nhập thị trường lớn - cơ sở hạ tầng trang thiết bị và công nghệ ban đầu đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, nên gần 10 năm này (1995-2003) cả SPT và Viettel đều chưa thâm nhập được thị trường VTDĐ. Viettel ra đời năm 1995 (Phụ lục 1), đăng ký giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông di động với cam kết không phụ thuộc vào nguồn tài chính của chính phủ để phát triển loại hình dịch vụ này. Năm 1999, vốn của Viettel chỉ có 2.3 tỷ đồng do Bộ quốc phòng cấp và nhân sự là 100 người (Viettel-Nội san, 2014). Với SPT, vốn ban đầu là khoảng 50 tỷ đồng (SPT, 2013).
Trong tương quan, tổng doanh thu Viettel năm 2000 là 54 tỷ VND (Viettel, 2012) còn của VNPT là 15000 tỷ VND (VNPT, 2013), có thể thấy nguồn lực của Viettel tại thời điểm này là không đáng kể. Năm 1996, mạng GSM thứ hai, Vinaphone ra đời, nhưng không có sự khác biệt đáng kể so với MobiFone: cả hai mạng đều cùng thuộc VNPT, có cùng dịch vụ, cùng giá cước được quyết định bởi VNPT và Chính phủ. Thị trường VTDĐ vẫn hoàn toàn độc quyền. Khi độc quyền, một công ty có thể quyết định giá và giá này có thể cao hơn chi phí trung bình rất nhiều.
Nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trên thế giới mà giá cước VTDĐ giảm dần, giá cước ở Việt Nam cũng giảm nhưng do độc quyền nên giảm chậm và vẫn ở mức cao, chất lượng dịch vụ không có gì thay đổi…( Hình 3-2: Cước và thay đổi giá cước VTDĐ từ 2000-2003). Do giá cao hơn chi phí trung bình nên VNPT có lãi rất lớn, lợi nhuận năm 2003 lên tới 6.000 tỉ đồng (tăng 2.000 tỉ đồng so với dự kiến)” (Bộ trưởng Bộ bưu chính viễn thông Đỗ Trung Tá trong (Hoàng Ly, 2004)) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -15- Hình 3-2: Cước và thay đổi giá cước VTDĐ từ 2000-2003 Đơn vị: VND/phút Trong 4 năm từ 2000 đến 2003 có ba lần thay đổi cước, với mức cước nội vùng từ 3500 VND/phút xuống còn 3000 VND/phút (với thuê bao trả trước) và 1800 VND/phút với thuê bao trả sau Nguồn: số liệu từ phụ lục 1 trong (Vũ Thành Tự Anh, Đỗ Hoàng Phương, 2012) Như vậy giai đoạn này thực chất vẫn là độc quyền VNPT, tuy nhiên từ quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam và chủ chương ủng hộ cạnh tranh trong lĩnh vực VTDĐ của thủ tướng, thời kỳ này cũng đã bắt đầu hình thành những yếu tố thể chế tạo điều kiện cho cạnh tranh thực sự trên thị trường VTDĐ Việt Nam sau này: - Với chủ trương mở cửa, nước ta tham gia vào nhiều khu vực tự do thương mại - VTDĐ là một lĩnh vực thường được đặt lên bàn đàm phán bởi các nhà đầu tư nước ngoài rất để ý đến tiềm năng của thị trường VTDĐ ở nước ta. Trong các cuộc thương thuyết giữa Việt Nam và Mỹ để đi đến ký kết hiệp đinh thương mại song phương Việt - Mỹ (1995- 2000), và giữa Việt Nam với các nước trong quá trình đàm phán gia nhập WTO (1995- 2007): việc mở cửa thị trường VTDĐ luôn là một trong những điểm quan trọng được đưa ra thảo luận và Việt Nam buộc phải cam kết sẽ dần dần tự do hóa thị trường này, cho phép nhiều thành phần tham gia vào thị trường. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -16- Theo chủ trương hội nhập đó, năm 1995 MobiFone hợp tác với Công ty Comvik Vietnam AB thuộc tập đoàn Kinnevik (Thụy Điển) theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract – BCC1), trong mười năm – từ 1995-2005.
Những năm hợp tác này đã giúp MobiFone tận dụng được thêm nguồn vốn và học hỏi thêm được kinh nghiệm quản lý và vận hành của đối tác nước ngoài. Năm 2003, cũng từ sự hợp tác với nước ngoài – BCC giữa Công ty dịch vụ Bưu chính viễn thông Sài Gòn SPT với SLD Telecom (Hàn Quốc), mạng di động đầu tiên phá thế độc quyền VTDĐ của VNPT là S-Fone ra đời. 1 BCC là một dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó đối tác nước ngoài đầu tư vào các công ty Việt Nam thông qua việc đầu tư vốn, chuyển giao kỹ thuật, các kỹ năng quản lý và đào tạo nguồn nhân lực. Hai bên thống nhất những hoạt động kinh doanh dựa trên bản hợp đồng kinh doanh mà không thành lập một pháp nhân mới, lợi nhuận sẽ được hai bên phân chia theo tỷ lệ thoả thuận trong hợp đồng.
Bên phía Việt Nam chịu trách nhiệm toàn bộ việc quản lý và vận hành kinh doanh và được hưởng toàn bộ tài sản sau khi hợp đồng BCC chấm dứt. Như vậy BCC thoả mãn yêu cầu tăng vốn dài hạn (độ dài của hợp đồng BCC thường là 6-15 năm để đủ thời gian hoàn vốn và thu lãi), thu nhận được các kỹ thuật mới, học được các kỹ năng quản lý, kiểm soát được luồng tài chính của đối tác nước ngoài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -17- Hình 3-3: Biểu đồ thời gian về một số mốc trong thay đổi cấu trúc của VNPT, cơ sở pháp luật của viễn thông và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Nguồn: Tác giả tổng hợp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -18- - Năm 1995 cũng đánh dấu sự thay đổi trong quản lý ngành viễn thông khi Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam chính thức tách khỏi chức năng quản lý nhà nước, và trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh, quản lý khai thác và cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông theo mô hình Tổng Công ty 91, trực thuộc Chính phủ và Tổng cục Bưu điện với tên giao dịch quốc tế viết tắt là VNPT. - Cuối giai đoạn này, năm 2002, Bộ bưu chính viễn thông được thành lập, thay thế Tổng cục Bưu điện, chịu trách nhiệm quản lý mảng viễn thông; Pháp lệnh Bưu chính viễn thông được thông qua cũng năm đó (Số hiệu 43/2002/PL-UBTVQH10, ban hành ngày 25/05/2002),… là những thay đổi thể chế quan trọng tạo nên điều kiện thuận lợi giúp Viettel và S-Fone có thể cạnh tranh trên thị trường VTDĐ sau này.
Điều này dễ hiểu vì, với ngành có lợi thế theo quy mô như VTDĐ, việc tổ chức một hãng lớn sẽ có lợi thế kinh tế hơn là nhiều hãng nhỏ, do vậy hãng đang ở vị trí độc quyền thống lĩnh thị trường có khả năng kiểm soát giá cả mà nó đặt ra; và do đó nếu không bị chính phủ điều tiết giá thì hãng có thể dễ dàng hạ giá xuống rất thấp để có thể “đè bẹp” các hãng mới gia nhập thị trường. Để có thể phá thể độc quyền và cạnh tranh được, thì doanh nghiệp mới gia nhập ngành cần được chính phủ hỗ trợ, ít nhất là có chính sách kiểm soát giá của những doanh nghiệp đang thống lĩnh thị trường, cho đến khi doanh nghiệp đạt được một mức sản lượng nhất định để chi phí trung bình đủ thấp, đạt mức tương đối so với các doanh nghiệp đang thống lĩnh kia, thì doanh nghiệp mới có thể cạnh tranh trên thị trường sản phẩm. Pháp lệnh viễn thông ra đời đã đạt được điều đó: Có thể thấy trong Pháp lệnh viễn thông, điều 44, quy định, giá cước dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp có thị phần khống chế thì phải thông qua sự phê duyệt của cơ quan quản lý nhà nước về bưu chính viễn thông, trong khi các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường thì không phải qua phê duyệt mỗi lần thay đổi giá. Chính vì thế Viettel và SPT và sau này là Beeline,.
đã có thể tiếp cận khách hàng nhanh chóng theo chiến lược giá để cạnh tranh với các đối thủ đang thống lĩnh thị trường, và tạo nên cạnh tranh về giá. Bên cạnh đó, pháp lệnh Viễn thông còn có những quy định giúp bảo vệ các doanh nghiệp viễn thông mới ra đời khỏi sự chèn ép của các doanh nghiệp đang thống lĩnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -19- Chẳng hạn, điều 39, các doanh nghiệp đang thống lĩnh thị trường bị ràng buộc: “Không được sử dụng các ưu thế của mình để hạn chế hoặc gây khó khăn cho hoạt động cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp viễn thông khác;” “Chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thị phần, chất lượng và giá cước đối với dịch vụ viễn thông chiếm thị phần khống chế.