Chương 1: giới thiệu chung về bài nghiên cứu, trình bày ngắn gọn đề tài nghiên cứu, lý do lựa chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, những đóng góp và hạn chế của nghiên cứu. Chương 2: trình bày tổng quan lý thuyết về mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển, hiệu quả hoạt động công ty và hạn chế tài chính, các kết quả nghiên cứu trƣớc đây về vấn đề này. Chương 3: trình bày phƣơng pháp nghiên cứu bao gồm phƣơng pháp, mô hình và dữ liệu nghiên cứu từ đó ứng dụng vào nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam giai đoạn 2009-2014. Chương 4: là kết quả thực nghiệm bao gồm phân tích, lý giải, so sánh kết quả hồi quy với các nghiên cứu trƣớc và giải thích ý nghĩa.
Chương 5: kết luận và một số hàm ý đƣa ra cho nhà quản lý.7 Đóng góp của nghiên cứu Quản trị vốn luân chuyển có mối quan hệ mật thiết với khả năng sinh lợi, rủi ro và giá trị công ty (Smith,1980) vì thế đƣợc nghiên cứu rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Thông qua nghiên cứu kỳ vọng có những đóng góp nhất định, bổ sung về mặt lý thuyết cũng nhƣ bằng chứng thực nghiệm trong vấn đề quản trị vốn luân chuyển tại Việt Nam. Điểm nổi bật của nghiên cứu là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ phi tuyến giữa quản trị vốn luân chuyển và hiệu quả công ty, hàm ý tồn tại một mức vốn luân chuyển tối ƣu. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn xem xét mối quan hệ phi tuyến này trong trƣờng hợp công ty có bị hạn chế tài chính và không bị hạn chế tài chính khác nhau nhƣ thế nào.
Một điểm mới khác của nghiên cứu là sử dụng phƣơng pháp GMM hai bƣớc cho phép kiểm soát vấn đề nội sinh vốn rất cần thiết và quan trọng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và hiệu quả công ty. Các kết quả nghiên cứu thu đƣợc sẽ cho các nhà quản trị công ty một cái nhìn sâu sắc hơn về quản trị vốn luân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 chuyển, cũng nhƣ vận dụng chúng vào trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.8 Hạn chế bài nghiên cứu và hƣớng phát triển của đề tài Tuy kết quả nghiên cứu có những đóng góp nhất định về việc chứng minh mối quan hệ phi tuyến giữa quan trị vốn luân chuyển và hiệu quả công ty, nhƣng luận văn vẫn còn những hạn chế nhất định xuất phát từ đặc thù của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 -2014, độ tin cậy báo cáo tài chính và độ dài thời gian nghiên cứu. Đầu tiên phải nói đến thị trƣờng chứng khoán Việt Nam mới phát triển, chƣa hoàn chỉnh trong việc quản lý cũng nhƣ tính chuyên nghiệp của nhà đầu tƣ, tâm lý đầu tƣ theo đám đông vẫn còn chi phối thị trƣờng. Thứ hai, xét giai đoạn nghiên cứu của luận văn là từ 2009 -2014, chứng kiến sự suy thoái mạnh mẽ của thị trƣờng chứng khoán, thị trƣờng chƣa hoàn toàn ổn định, vì vậy việc thu thập dữ liệu nghiên cứu có tác động không nhỏ đến kết quả nghiên cứu.
Thứ ba, việc xem xét các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động công ty chỉ dừng lại ở yếu tố nội bộ của công ty mà chƣa xem xét yếu tố vĩ mô của nền kinh tế cũng có thể tác động đến hiệu quả tài chính của công ty. Nghiên cứu chủ đề vốn luân chuyển trong tƣơng lai có thể khắc phục các hạn chế trên. Mở rộng mẫu nghiên cứu với số công ty nhiều hơn và thời gian dài hơn. Thêm các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính công ty vào xem xét.
Ngoài ra, có thể đƣa lợi nhuận hoạt động cũng nhƣ khả năng thanh khoản của công ty vào xem xét và so sánh mối quan hệ giữa các biện pháp đo lƣờng thay thế hiệu quả hoạt động công ty và quản trị vốn luân chuyển, từ đó xem xét liệu có sự khác biệt nào trong kết quả thu đƣợc hay không. Đặc biệt là có thể nghiên cứu các biện pháp kiểm soát hạn chế tài chính để tăng hiệu quả hoạt động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Giới thiệu về vốn luân chuyển 2.1 Khái niệm về vốn luân chuyển Vốn luân chuyển (Working Capital) đƣợc định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng, vốn luân chuyển là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh.
Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hóa qua tất cả các dạng – tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt (Guthmann và Dougall, 1948).2 Vai trò của vốn luân chuyển trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để tiến hành sản xuất, ngoài tài sản cố định nhƣ máy móc, thiết bị, nhà xƣởng. doanh nghiệp phải bỏ ra một lƣợng tiền nhất định để mua sắm nguyên vật liệu, hàng hóa. phục vụ cho quá trình sản xuất. Nhƣ vậy vốn luân chuyển là một trong những điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động.
Ngoài ra vốn luân chuyển còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục. Vốn luân chuyển còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Vốn luân chuyển còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trƣờng doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lƣợng vốn nhất định để đầu tƣ ít nhất là đủ để dự trữ vật tƣ hàng hóa.
Vốn luân chuyển còn giúp cho doanh nghiệp chớp đƣợc thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Vốn luân chuyển còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra đƣợc tính toán trên cơ sở bù đắp đƣợc giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Do đó, vốn luân chuyển đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra.2 Nền tảng lý thuyết về quản trị vốn luân chuyển Quản trị vốn luân chuyển có mục tiêu chính là đảm bảo đủ dòng tiền để công ty duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh bình thƣờng trên cơ sở giảm thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng cho những nghĩa vụ tài chính ngắn hạn, thúc đẩy sự chuyển hóa nhanh chóng các hình thái tồn tại của tài sản lƣu động.
Các chính sách quản trị vốn luân chuyển cần giải quyết hai vấn đề lớn: thứ nhất đầu tƣ bao nhiêu vào tài sản lƣu động và đầu tƣ vào tài sản nào; thứ hai sử dụng nguồn vốn nào để tài trợ cho vốn luân chuyển. Hai vấn đề này đều có tác động trực tiếp và tổng hợp lên khả năng sinh lợi của công ty.1 Các thành phần quản trị vốn luân chuyển Quản trị vốn luân chuyển là quản trị tài sản ngắn hạn và quản trị nợ ngắn hạn của công ty. Trong các thành phần của quản trị vốn luân chuyển thì quan trọng nhất là quản trị các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả. Việc quản trị các yếu tố này có ảnh hƣởng đến dòng tiền và việc vay nợ ngắn hạn của công ty.
Sau đây, nghiên cứu lần lƣợc khái quát nội dung và tầm quan trọng việc từng yếu tố này trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.1 Quản trị khoản phải thu Mỗi doanh nghiệp thƣờng thiết lập chính sách tín dụng thƣơng mại dành cho khách hàng riêng biệt phụ thuộc vào chiến lƣợc kinh doanh của mình trong từng thời kỳ. Khi xem xét các giao dịch có liên quan đến tín dụng, chúng ta nhận thấy dƣờng nhƣ mỗi ngành có điều kiện thanh toán khác nhau. Những điều kiện này có logic cơ bản. Ví dụ, một doanh nghiệp bán hàng tiêu dùng lâu bền có thể cho khách hàng một tháng để thanh toán, trong khi đó những ngƣời bán hàng mau hỏng nhƣ thực phẩm tƣơi sống hay trái cây thì yêu cầu thời gian thanh toán ngắn hơn chẳng hạn trong 1 tuần thậm chí thanh toán ngay.
Một số yếu tố khác mà ngƣời bán hàng xem xét cho phép thời gian thanh toán dài hơn phụ thuộc vào: nếu việc kinh doanh của ngƣời LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 mua hàng có mức rủi ro thấp, uy tín thanh toán của khách hàng, thời gian giao dịch mua bán giữa các bên đã lâu dài hay chƣa, khả năng hàng bán nhanh hay chậm? Để tiêu thụ đƣợc nhiều hàng hóa và làm tăng doanh thu trong điều kiện cạnh tranh hiện nay các doanh nghiệp đều thực hiện việc bán hàng tín dụng từ đó sẽ làm phát sinh các khoản phải thu của doanh nghiệp. Khoản phải thu vừa có chi phí trực tiếp vừa có chi phí gián tiếp nhƣng lại có một ƣu điểm quan trọng là làm gia tăng lƣợng bán, dẫn đến tăng doanh thu. Ngoài ra, việc bán hàng tín dụng làm tăng tốc độ chuyển hóa tồn kho, tăng cƣờng mối quan hệ với khách hàng. Tuy nhiên, bán hàng tín dụng cũng có nhiều bất lợi.
Thứ nhất, việc tăng bán hàng tín dụng làm tăng khối lƣợng công việc, tăng chi phí bán hàng, quản lý khoản phải thu, thu nợ. Thứ hai, bán hàng tín dụng tăng làm tăng nhu cầu vốn cho các khoản phải thu. Thứ ba, khi phát sinh các khoản phải thu sẽ phát sinh rủi ro đó là rủi ro không trả nợ đúng hạn và rủi ro khách hàng mất khả năng thanh toán. Vì vậy, việc bán hàng tín dụng cần tuân theo một chính sách hợp lý tức là các điều khoản tín dụng mà sẽ thu hút khách hàng, nhƣ vậy mà bất kỳ tác động nào trên lƣu chuyển tiền tệ và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt sẽ đƣợc bù đắp bằng doanh thu và do đó hoàn vốn tăng lên hoặc ngƣợc lại.
Rất nhiều các nghiên cứu cho rằng việc rút ngắn thời gian khoản phải thu đến mức thấp nhất có thể sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động công ty, trong đó phải kể đến các nghiên cứu của (Shin, Soenen, 1998; Wang, 2002; Deloof, 2003; Lazaridis và Tryfonidis, 2006; Garcia - Teruel, Salano, 2007…).