Chương 1 : Giới thiệu : Đầu tiên tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, và trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu bài nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của nghiên cứu. Chương 2 : Tổng quan lý thuyết : Tác giả sẽ trình bày các bài nghiên cứu trước đây trên thế giới. Từ các bài nghiên cứu trên, tác giả xây dựng các giả thuyết cho bài nghiên cứu này. Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu : Phần này sẽ trình bày lần lượt về mô hình nghiên cứu, giải thích các biến trong bài và cách thu thập dữ liệu nghiên cứu.
Cuối cùng là trình bày về phương pháp kiểm định mô hình, phân tích và trình bày kết quả kiểm định. Chương 4 : Kết quả nghiên cứu : Phần này sẽ trình bày các kết luận về mối quan hệ giữa phát triển tài chính, hạn chế tài chính và quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam so sánh kết quả với các bài nghiên cứu trước đây. Chương 5 : Kết luận: Phần này sẽ tổng kết lại bài nghiên cứu, các kết quả đạt được và nêu lên những hạn chế khi thực hiện đề tài này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.
KHUNG LÝ THUYẾT Trong quản trị tài chính doanh nghiệp, CEO thường phải đưa ra ba quyết định quan trọng : Quyết định đầu tư Quyết định tài trợ Quyết định chi trả cổ tức Trong đó, quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất vì đây là quyết định tạo ra gía trị cho doanh nghiệp. Một quyết định đầu tư đúng đắn sẽ giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp, từ đó làm gia tăng giá trị cổ đông. Và ngược lại sẽ dẫn đến một sự tổn thất về tài sản của cổ đông, sụt giảm giá trị doanh nghiệp. Quyết định đầu tư không chỉ phụ thuộc vào năng lực của các giám đốc tài chính, phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của cơ hội đầu tư, mà còn phụ thuộc vào nguồn vốn nội bộ và khả năng huy động vốn bên ngoài của doanh nghiệp.
Một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động nguồn vốn nội bộ và thậm chí do thị trường tài chính chưa phát triển, việc huy động nguồn vốn bên ngoài cũng gặp nhiều khó khăn, một cách nói khác là doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Khái niệm về Hạn chế tài chính Hiện tại, vẫn chưa có một định nghĩa chính xác về “Hạn chế tài chính”, nhưng hầu hết các quan điểm cho rằng, khi doanh nghiệp ở trạng thái hạn chế tài chính thì sẽ khó khăn huy động nguồn tài trợ bên ngoài, các giám đốc tài chính đưa ra quyết định tài trợ cho các cơ hội đầu tư sẽ phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài trợ nội bộ, do việc tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài sẽ tốn một chi phí rất cao. Trong thị trường phát triển tài chính, sự xuất hiện các tổ chức tài chính, ngân hàng và cả thị trường vốn tự do, sự cạnh tranh về lãi suất giúp cho khả năng các doanh nghiệp huy động nguồn vốn trở nên dễ dàng hơn, chi phí cũng rẻ hơn và giảm sự lệ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn nội bộ. Bên cạnh đó, khi nói về vốn thì lại liên quan trực tiếp đến quyết định tài trợ của doanh nghiệp.
Các giám đốc tài chính sẽ cân nhắc lựa chọn nguồn vốn nào có lợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cho doanh nghiệp, sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu hay nguồn vốn vay, cân nhắc việc sử dụng giữ lại để tái đầu tư hay chia cổ tức cho các cổ đông. Theo định đề 1 của Modigliani và Miller (1958), quyết định đầu tư và quyết định tài trợ độc lập với nhau trong thị trường vốn hoàn hảo. Tuy nhiên, quyết định đầu tư và quyết định tài trợ có mối quan hệ với nhau trong thực tế do các bất hoàn hảo thị trường như chi phí đại diện, bất cân xứng thông tin, … Trong bài nghiên cứu của Fazzari và cộng sự (1988) tìm thấy mối quan hệ giữa đầu tư và tài trợ của các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Độ nhạy cảm của đầu tư vào dòng tiền nội bộ có mối tương quan dương với sự chênh lệch giữa chi phí tài trợ nội bộ và chi phí tài trợ từ việc huy động nguồn bên ngoài.
Doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức và khả năng thanh khoản càng thấp thì càng hạn chế tài chính, khó tiếp cận được nguồn vốn bên ngoài. Khi nguồn vốn nội bộ của doanh nghiệp không thể tài trợ cho đủ các quyết định đầu tư, các giám đốc tài chính phải cân nhắc sử dụng lượng tiền mặt thu lại được từ lợi nhuận giữ lại, thực hiện chi trả cổ tức thấp để bù đắp cho khoản tài chính thiếu hụt. Đối với một công ty bị hạn chế tài chính, quyết định đầu tư không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của bản thân dự án mà còn phụ thuộc vào năng lực tài chính của doanh nghiệp. Hubbard (1998) và Stein (2003) cũng cho ra cùng kết quả, quyết định đầu tư phụ thuộc vào khả năng sinh lợi được đại diện bởi hệ số Tobin’s Q và dòng tiền mặt của doanh nghiệp.
Kết quả bài nghiên cứu này cũng trùng khớp với kết quả của các bài nghiên cứu của Guariglia, (2008); Carreira & Silva (2010). Việc thiếu hụt nguồn tài trợ sẽ khiến các cơ hội đầu tư của doanh nghiệp phụ thuộc vào dòng tiền nội bộ, dù hạn chế tài chính từ bên trong hay bên ngoài. Quyết định đầu tư và Quyết định tài trợ có mối tương tác với nhau được lý giải dựa trên lý thuyết đại diện và lý thuyết bất cân xứng thông tin. Phần tiếp theo, tác giả sẽ trình bày cụ thể về từng lý thuyết và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện cho rằng có sự mâu thuẫn giữa các giám đốc tài chính và chủ sở hữu, mâu thuẫn giữa giám đốc tài chính và các nhà đầu tư bên ngoài. Trong quyết định tài trợ của mình, các giám đốc tài chính phải cân nhắc để chọn tỷ lệ đòn bẫy thích hợp. Việc sử dụng nợ vay có thể giúp doanh nghiệp gia tăng khả năng sinh lợi do lợi ích từ tấm chắn thuế. Tuy nhiên, khi mọi thứ không diễn ra theo đúng kế hoạch thì doanh nghiệp sẽ gặp vấn đề nghiêm trọng về tài chính và dẫn đến mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản.
Nguồn tài trợ của doanh nghiệp nếu có quá nhiều nợ vay sẽ không tốt, vậy nếu lượng tiền mặt dư thừa có tốt cho doanh nghiệp hay không, vì các giám đốc tài chính có xu hướng duy trì một dòng tiền mặt lớn trong doanh nghiệp. Nhìn theo hướng tích cực, các nhà đầu tư bên ngoài khi nhìn vào bảng cân đối kế toán sẽ tạo ra ấn tượng tốt vì họ tin rằng lượng tiền mặt dồi dào sẽ giúp cho các doanh nghiệp phòng ngừa và xử lý tốt nếu hoạt động kinh doanh không tốt, tạo cho doanh nghiệp nhiều lựa chọn trong việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư tương lai. Đây là một tín hiệu cho thấy doanh nghiệp đang ở guồng kinh doanh tốt và phát triển mạnh. Lúc này, các nhà đầu tư cần phải xem xét xem nguồn hình thành dòng tiền này để có cái nhìn chuẩn xác hơn.
Các lý thuyết tài chính nói rằng mỗi doanh nghiệp nên có một mức tiền mặt thích hợp cho doanh nghiệp mình, một lượng đủ để thanh toán lãi vay, các chi phí và chi tiêu vốn, ngoài ra còn phải dự trữ thêm một ít nữa để doanh nghiệp kịp xử lý trong những tình huống khẩn cấp, … Sau khi đã phân bổ dòng tiền, thì lượng tiền mặt còn lại sẽ được phân phối lại cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức hoặc thực hiện các dự án đầu tư mới. Lượng tiền mặt tích luỹ quá nhiều sẽ làm cho các nhà quản trị không kịp có thời gian để lên kế hoạch sự dụng hiệu quả. Chi phí đại diện rất dễ xảy ra trong các tình huống này. Các giám đốc tài chính nắm giữ tiền mặt thông qua việc giảm chi trả cổ tức cho các cổ đông nhằm gia tăng tài sản thuộc quyền kiểm soát của các nhà quản lý và từ đó dễ dàng thực hiện các quyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 định đối với doanh nghiệp.
Các giám đốc tài chính nắm giữ đủ nguồn lực tài chính để không cần phải đi huy động bên ngoài, từ đó hạn chế được sự giám sát của các chủ nợ, nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các nhà quản trị có thể sẽ thực hiện các dự án lãng phí và kém hiệu quả, mở rộng quy mô doanh nghiệp, thậm chí là các dự án gây hại đến lợi ích của cổ đông, dẫn đến đầu tư quá mức nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích cá nhân, nếu như các dự án được thực hiện dưới sự tài trợ của nợ vay thì sẽ hạn chế phần nào việc đầu tư quá mức. Theo nghiên cứu của Myer (1977) đã kết luận mâu thuẫn giữa các cổ đông hiện hữu, các giám đốc tài chính và các chủ nợ đã làm giảm động cơ đầu tư vào các cơ hội có NPV dương vì các giám đốc tài chính và cổ đông lo sợ các chủ nợ sẽ nhận được lợi ích nhiều hơn, dẫn đến việc đầu tư dưới mức. Theo János Kornai (1980), chính sách phụ mẫu của nhà nước với các công ty do nhà nước sở hữu đã đã làm các doanh nghiệp quốc doanh không quan tâm đến hiệu quả khi sử dụng khoản vay để đầu tư do nhận được ưu đãi về vốn từ nhà nước.
Bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ đòn bẫy tài chính và quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên duy trì một mức tiền mặt cần thiết, tránh dư thừa tiền mặt trong doanh nghiệp. Nếu cần huy động thêm vốn cho các dự án tiềm năng, các giám đốc tài chính nên cân nhắc đến thị trường vốn hiện hữu. Thị trường vốn với các yêu cầu khắt khe và sự giám sát của các chủ nợ và nhà đầu tư sẽ giúp cho các giám đốc tài chính thực hiện các quyết định đầu tư hiệu quả và thận trọng hơn, cũng như giảm được chi phí đại diện doanh nghiệp.