Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu, trình bày một cách ngắn gọn về lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và tổng hợp các nghiên cứu trước liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu dữ liệu nghiên cứu và quy trình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Cơ sở lý thuyết nền cho nghiên cứu 2. Lý thuyết triển vọng Lý thuyết triển vọng được Kahneman và Tversky giới thiệu năm 1979 để giải thích các khác biệt về quyết định kinh tế so với lý thuyết tân cổ điển. Theo lý thuyết triển vọng cho rằng có sự thiên lệch trong nhận thức của con người về lãi và lỗ vì con người lo sợ mất mát nhiều hơn việc được khích lệ khi có lãi. Nếu một người được chọn 1 trong 2 viễn cảnh khác nhau, họ sẽ chọn cái mà họ nghĩ rằng sẽ ít có khả năng bị lỗ, thay vì chọn cái đưa lại nhiều lãi nhất.
Giả sử khi đưa cho một người 2 khoản đầu tư, một khoản sẽ đưa lại 5% lợi nhuận mỗi năm và một khoản đưa lại 12% lợi nhuận trong năm thứ nhất, lỗ 2.5% trong năm thứ hai, và đưa lại 6% trong năm thứ ba, người đó sẽ chọn khoản đầu tư mang lại 5% mỗi năm vì anh ta, một cách phi lý trí, quan tâm nhiều hơn đến một khoản lỗ, trong khi bỏ qua những khoản lãi có mức độ lớn hơn. Trong những ví dụ trên, cả 2 khả năng đều đưa lại lợi nhuận thuần dương sau 3 năm. Vì sự thiên lệch trong nhận thức dẩn đến các nhà đầu tư sẽ có những quyết định đầu tư mà ảnh hưởng rất nhiều đến thị trường các hàng hóa và thị trường tài chính. Khi hai tài sản, một tài và một danh mục có tương quan âm hay không tương quan với nhau thì hai tài sản đó có khả năng tự bảo hiểm cho nhau hay là nơi trú ẩn an toàn với nhau khi đó hữu dụng của nhà đầu tư sẽ tăng lên khi có một tài sản như thế trong danh mục đầu tư của mình.
Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá Vào năm 1976, nhà kinh tế học Stephen Ross đã đề xuất Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) để xác định giá trị tài sản. APT phát biểu rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản tài chính có thể được đo lường thông qua các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau hoặc là yếu tố thị trường. Vì vậy, theo APT, tỷ suất sinh lợi của chứng khoán (lợi nhuận của chứng khoán) là một hàm số tuyến tính của tập hợp các yêu tố kinh tế tác động đến tất cả các chứng khoán. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Stephen Ross (1976) đã triển khai mô hình APT như sau: 𝑅 = 𝑅̅ + 𝛽1 𝐹1 + 𝛽2 𝐹2 + ⋯ + 𝛽𝑛 𝐹𝑛 + 𝜀 (∗) Trong đó: R: tỷ suất sinh lợi của chứng khoán (lợi nhuận chứng khoán) 𝑅̅ : tỷ suất sinh lợi mong đợi của chứng khoán 𝐹𝑛 : nhân tố vĩ mô thức n của nền kinh tế 𝜀: đặc trưng của từng chứng khoán riêng biệt Các yếu tố F được sử dụng trong mô hình (*) có thể là: lạm phát, GDP, thay đổi trong lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá vàng… Như vậy theo APT, cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô như giá vàng, tỷ giá, giá dầu và tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán.
Trong nghiên cứu thực nghiệm, Jones và Kaul (1996) đã sử dụng mô hình APT và cho thấy sự ảnh hưởng của giá dầu đến thị trương chứng khoán. Tương quan xảy ra do giá dầu biến động làm ảnh hưởng đến đồng tiền thực và giá dầu là một yếu tố rủi ro đối với thị trường chứng khoán. Tổng quan về các mối quan hệ 2. Mối quan hệ giữa giá vàng và giá dầu Giữa giá dầu và giá vàng có mối quan hệ mật thiết với nhau vì cả hai tài sản này đều phần lớn được niêm yết bằng đồng đô la Mỹ.
Vì thế khi đồng đô la Mỹ tăng giá thì những nhà đầu tư ở những quốc gia không sử dụng đồng đô la sẽ cho rằng giá những tài sản niêm yết bằng đô la Mỹ tăng nên họ giảm nhu cầu về tài sản đó dẫn đến thực tế là những tài sản niêm yết bằng đồng đô la sẽ giảm giá. Khi đồng đô la Mỹ giảm giá (Reboredo, 2012) giá dầu tăng và các nhà đầu tư có thể sử dụng vàng như tài sản trú ẩn an toàn. Giá dầu và giá vàng còn có mối liên hệ với nhau thông qua lạm phát. Khi giá dầu tăng thì lạm phát cũng có xu hướng tăng.
Vàng thì được biết đến như một công cụ phòng ngừa tốt trong thời kỳ lạm phát. Giá trị của vàng tăng khi lạm phát tăng vì lúc đó nhu cầu về vàng của các nhà đầu tư gia tăng. Theo Chen (2009) và Alvarez LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 và cộng sự (2011) kết luận sự gia tăng trong giá dầu dẫn đến áp lực lạm phát nên giá vàng sẽ tăng vì vàng được xem như một công cụ phòng ngừa lạm phát. Trong thời gian từ năm 2005 đến nay, giá dầu thế giới và giá vàng thế giới có xu hướng biến động tương tự nhau và có tương quan dương.
Ngoài ra, vàng và dầu còn có mối liên thông qua tình trạng phát triển kinh tế. Khi giá dầu tăng có tác động tiêu cực lên tốc độ phát triển kinh tế (Hamilton, 2003; Kilian, 2008) và giá trị tài sản (Reboredo, 2010) nên sẽ làm giá tăng giá vàng vì vàng được coi như một tài sản thay thế để dự trữ giá trị. Vì vậy, khi nền kinh tế suy thoái là lúc thị vàng tăng giá vì khi đó nhiều người thích nắm giữ các kim loại quý như vàng hơn. Ngoài ra, ảnh hưởng giá dầu tác động khác nhau lên nước nhập khẩu dầu và nước xuất khẩu dầu.
Giá dầu cao có tác động tích cực lên nguồn thu của các quốc gia xuất khẩu thuần, dẫn đến gia tăng đầu tư của các quốc gia đó vào vàng để tăng tỷ trong trong danh mục được đa dạng hóa, vì thế giá vàng tăng vì nhu cầu vàng cao hơn (Melvin and Sultan, 1990). Mối quan hệ giữa giá vàng và tỷ giá hối đoái Vàng là một công cụ dự trữ giá trị được nhiều đối tượng quan tâm và nắm giữ như ngân hàng trung ương các quốc gia, các nhà đầu tư, nhà quản lý quỹ cũng như các người tiêu dùng. Trên thế giới, giá vàng được niêm yết theo các đồng tiền mạnh như đô la Mỹ, EUR, YJP, GBP,… nhưng phổ biến nhất vẫn là đồng đô la Mỹ. Vì được niêm yết giá theo đồng đô la Mỹ là chủ yếu nên khi có sự biến động trong giá trị đồng đô la Mỹ cũng sẽ tác động đến giá của vàng thế giới.
Nếu đồng đô la Mỹ tăng giá, thì ở các quốc gia không sử dụng đồng đô la Mỹ sẽ cho rằng giá vàng sẽ tăng vì với một lượng vàng như cũ nhưng các nhà đầu tư ở quốc gia đó phải bỏ ra một lượng nội tệ nhiều hơn so với trước đây vì thế sẽ dẫn đến cầu vàng giảm và cuối cùng tác động lên giá vàng thế giới sẽ giảm. Và ngược lại, khi đồng đô la Mỹ giảm giá sẽ tác động làm cho giá vàng tăng lên. Vậy giá vàng thế giới có quan hệ với tỷ giá hối đoái với các quốc gia khác thông qua tỷ giá đối với đồng đô la Mỹ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Ngoài ra, vàng và đô la Mỹ là những tài sản đầu tư được nhiều nhà đầu tư cũng như ngân hàng Trung ương các quốc gia trên thế giới quan tâm và đưa vào danh mục của mình.
Vì thế, khi có sự biến động trong giá của một trong hai loại tài sản trên sẽ tác động đến hành vi tài chính của các nhà đầu tư và sự chuyển dịch tài sản, thay đổi cơ cấu tài sản trong danh mục sẽ và dẫn đến quan hệ cung cầu sẽ khác so với trước nên giá cả các tài sản còn lại sẽ bị ảnh hưởng. Đặc biệt, trong những trường hợp đồng đô la Mỹ mất giá liên tục và nền kinh tế thế giới có nhiều biến động thì các nhà đầu tư có xu hướng giảm tỷ trọng đồng đô la và tăng tỷ trọng vàng trong danh mục nên nhu cầu về vàng sẽ tăng và do đó giá vàng sẽ tăng. Vì thế, giữa vàng và tỷ giá hối đoái có mối quan hệ với nhau và có những chiều hướng tác động khác nhau khi đứng ở những góc độ khác nhau. Mối quan hệ giữa giá vàng và thị trường chứng khoán.
Nếu nhà đầu tư thêm một tài sản cho danh mục đầu tư của họ mà giảm thua lỗ trong thời điểm thị trường căng thẳng hoặc tình trạng hỗn loạn bằng những tài sản phòng ngừa hay đa dạng hóa sẽ làm giảm mức độ nghiêm trọng của những cú sốc đó làm tăng sự ổn định của thị trường vốn. Theo Lucey và Baur (2010) dựa trên thuyết hữu dụng cho rằng mức hữu dụng của một nhà đầu tư sẽ tăng lên khi mua một tài sản có thể làm giảm tổn thất thì tài sản đó gọi là tài sản phòng ngừa hay đa dạng hóa. Đó là một tài sản mà không mất đi giá trị trong thời điểm điều kiện thị trường khắc nghiệt như cuộc khủng hoảng tài chính và do đó thể hiện một mối tương quan nghịch chiều hoặc không tương quan với danh mục đầu tư chuẩn trong thời gian đó. Hữu dụng của nhà đầu tư sẽ tăng khi họ đưa một tài sản trú ẩn an toàn vào trong danh mục.
Điều này đúng với thuyết hữu dụng kỳ vọng và lý thuyết triển vọng. Vàng được xem như là một tài sản trú ẩn an toàn tránh sự gia tăng trong rủi ro tài chính (Aggarwal and Lucey, 2007). Do đó khi nền kinh tế trở nên suy thoái thì nhà tư sẽ có xu hướng chuyển qua kênh đầu tư vào vàng. Những bất ổn kinh tế hiện nay nhà đầu tư đáng lo ngại là khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sự bất ổn về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 tình hình chính trị đang diễn ra tại các nước Trung Đông cũng như vùng Biển Đông Châu Á.