chương 1 Dấu hiệu để xác định doanh nghiệp có nguy cơ phá sản là rất đa dạng và gây nhiều khó khăn đối với những nhà lập pháp. Tùy theo quan điểm của từng quốc gia, từng thời kì sẽ có định nghĩa và cách xác định phù hợp. LPS đã được ban hành và quy định cụ thể các bước để tiến hành thủ tục phá sản cho doanh nghiệp, tuy nhiên thực tế thực hiện lại rất phức tạp, mất nhiều thời gian và gây thiệt hại lớn cho các thành phần kinh tế và xã hội. Bên cạnh việc xác định dấu hiệu doanh nghiệp có nguy cơ phá sản thì phương pháp để dự đoán các doanh nghiệp có nguy cơ phá sản cũng rất đa dạng và có những ưu điểm - nhược điểm khác nhau.
Trong thời gian qua, đã có nhiều mô hình được xây dựng để dự đoán xác suất phá sản như: Mô hình xác suất tuyến tính; Mô hình Logistic; Mô hình Probit; Mô hình phân tích phân biệt (MDA). Tuy nhiên, phương pháp được đánh giá là dễ sử dụng và có khả năng dự đoán chính xác nhất là Mô hình phân tích phân biệt (MDA) và Mô hình Logistic. Đây là các mô hình sử dụng chỉ số tài chính quá khứ để dự đoán khả năng phá sản ở tương lai và có tỷ lệ dự đoán chính xác cao (trên 90%). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN HOSE BẰNG MÔ HÌNH LOGISTIC 2.1 Lựa chọn mẫu nghiên cứu Thu thập các thông tin, số liệu liên quan đến đánh giá khả năng lâm vào tình trạng phá sản là một quá trình quan trọng trong bất kỳ một nghiên cứu thống kê nào, bởi việc lựa chọn số liệu chính xác sẽ mô tả tốt nhất cho việc nhận biết mô hình.
Bộ số liệu được sử dụng trong đề tài là báo cáo tài chính cuối năm 2010 của các doanh nghiệp đang niêm yết tại HOSE đến 31/12/2011 và có thời gian niêm yết tối thiểu 2 năm. Nguồn số liệu được cung cấp bởi Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng nhà nước (www.vn), Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (www.vn), website: www.com, Công ty chứng khoán Maritime Bank (www. Mô tả mẫu nghiên cứu Bảng 2.1: Số lượng cổ phiếu niêm yết trên HOSE đến 31/12/2011 STT Năm niêm yết Số CP 1 2000-2009 206 2 2010 69 3 2011 30 Tổng 315 (Nguồn số liệu từ www.com) Tại thời điểm 31/12/2011, HOSE có 206 doanh nghiệp được niêm yết tối thiểu 2 năm. Trong mẫu nghiên cứu lựa chọn 197 doanh nghiệp (sau khi loại trừ 9 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng có cấu trúc tài chính khác biệt) được chia thành 2 nhóm.
Nhóm 1 là nhóm các doanh nghiệp có nguy cơ phá sản và nhóm 0 là nhóm các doanh nghiệp không có nguy cơ phá sản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Số liệu không phân theo từng ngành kinh tế, do số lượng các doanh nghiệp của mỗi ngành niêm yết còn nhỏ không phù hợp để xây dựng mô hình theo từng ngành. Nguyên nhân đề tài chỉ giới hạn đối với các doanh nghiệp đã niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh là do: - Tính sẵn có và dễ thu thập dữ liệu vì nhóm doanh nghiệp này có nghĩa vụ phải công khai thông tin định kỳ, thông tin bất thường và thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quản lý thị trường theo quy định. Với các doanh nghiệp chưa niêm yết việc thu thập các số liệu này gặp rất nhiều khó khăn, trong trường hợp thu thập được thì hầu hết chưa qua kiểm toán nên độ tin cậy của các số liệu không cao.
- Nguồn dữ liệu đầu vào là số liệu các chỉ số tài chính được tính toán từ báo cáo tài chính năm của các doanh nghiệp. Do tiêu chuẩn niêm yết của HOSE và HASTC có nhiều điểm khác nhau ví dụ: quy mô vốn điều lệ, điều kiện lợi nhuận… Để giảm bớt sự chênh lệch về chỉ số tài chính mà không thể hiện sự phân nhóm, tác giả chỉ lựa chọn mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE. Với các dấu hiệu nhận biết một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo LPS Việt Nam 2004 và theo Hiệp ước Basell II, tác giả lựa chọn tiêu chí phân nhóm như sau: các doanh nghiệp được phân vào nhóm 1 (nhóm có nguy cơ phá sản) khi có ít nhất một trong các sự cố sau xảy ra: Bảng 2.2: Các dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản STT Sự cố Cách xác định 1 Không có khả năng thực hiện Phát sinh NQH nhóm 3 nghĩa vụ tín dụng đối với bên đối tác 2 Vốn lưu động thường xuyên nhỏ Tài sản ngắn hạn – nợ ngắn hạn hơn không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 3 GTTT của doanh nghiệp nhỏ hơn GTTT – Tổng nợ tổng nợ phải trả (Nguồn tổng hợp của tác giả) Với sự cố thứ nhất, dấu hiệu để nhận biết là thông qua việc hoàn trả vốn vay có đúng hạn hay không của doanh nghiệp, qua đó cho biết tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp có thực sự lành mạnh. Đứng trên góc độ ngân hàng đây là tiêu chí rất quan trọng khi xét duyệt cho vay, với các doanh nghiệp và nhà đầu tư thì chính là dấu hiệu nhận biết có hay không tiếp tục hợp tác với doanh nghiệp này.
Nếu đã phát sinh NQH nhóm 3 chứng tỏ doanh nghiệp đang rất khó khăn về thanh khoản, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ tín dụng với bên đối tác. Trong trường hợp này doanh nghiệp cũng rất khó có khả năng tiếp tục nhận được các khoản tín dụng từ phía các đối tác khác, điều đó sẽ dẫn đến sự gián đoạn trong hoạt động của doanh nghiệp. Đó là một trong những dấu hiệu chứng tỏ doanh nghiệp có nguy cơ phá sản. Với sự cố thứ hai, vốn lưu động thường xuyên là chỉ tiêu phản ánh mức độ chênh lệch giữa tổng tài sản ngắn hạn và tổng nợ ngắn hạn.
Doanh nghiệp muốn hoạt động không bị gián đoạn thì phải duy trì một mức vốn hoạt động thuần hợp lý để đáp ứng việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp càng cao, tình hình tài chính càng lành mạnh và khả năng thanh toán càng cao. Ngược lại, khi vốn lưu động thường xuyên giảm thì kéo theo khả năng thanh toán cũng giảm dần. Khi vốn lưu động thường xuyên là một số âm, chứng tỏ một bộ phận tài sản dài hạn của doanh nghiệp được hình thành bằng nguồn vốn ngắn hạn, dẫn đến cán cân thanh toán mất cân bằng.
Khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng này thì khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn rất thấp vì để chuyển đổi từ tài sản dài hạn thành tiền là việc rất phức tạp và mất nhiều thời gian. Và một khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản NĐH khi chủ nợ yêu cầu thì tất nhiên doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản. Với sự cố thứ ba, GTTT của một doanh nghiệp được tính bằng GTTT một cổ phiếu nhân với tổng số cổ phiếu của doanh nghiệp. Trong một TTCK hiệu quả, GTTT phản ánh đầy đủ mọi yếu tố liên quan tới doanh nghiệp.
Nói cách khác, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 GTTT thể hiện giá trị thực của các tài sản cơ sở của doanh nghiệp. Nhìn chung, GTTT của doanh nghiệp thường được xác định cao hơn rất nhiều so với giá trị thanh lý và giá trị hoạt động của nó. Khi doanh nghiệp làm ăn kinh doanh hiệu quả, tình hình tài chính lành mạnh và có triển vọng phát triển tốt, cổ phiếu của doanh nghiệp này thường được trả giá cao. Ngược lại, khi doanh nghiệp có những biểu hiện như: hoạt động kinh doanh thua lỗ, tình hình tài chính không lành mạnh, mất khả năng thanh toán, khả năng phát triển kém,… Trong trường hợp này GTTT của doanh nghiệp thường được xác định rất thấp.
Vì vậy, nếu coi GTTT của doanh nghiệp đóng vai trò tài sản đảm bảo của doanh nghiệp trong hoạt động của mình thì các chủ thể trong nền kinh tế sẽ quyết định không hợp tác với doanh nghiệp, không cung cấp các khoản tín dụng…khi GTTT của doanh nghiệp thấp hơn các khoản nợ phải trả, điều đó dẫn đến doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, cũng như sự sụp đổ của doanh nghiệp. Bởi vì, theo lý thuyết hành vi và lý thuyết trò chơi đã chỉ rõ: khi thực hiện bất cứ một hành vi nào, mỗi cá nhân luôn xem xét họ được gì và mất gì. Nếu hành vi luôn mang lại lợi ích mà không bị tổn thất gì thì họ sẽ thực hiện, ngược lại nếu hành vi luôn tạo ra tổn thất mà không mang lại lợi ích gì cho bản thân thì họ sẽ không thực hiện.3: Số lượng các doanh nghiệp có nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản STT Nguy cơ Số lượng 1 Không có khả năng thực hiện nghĩa vụ tín dụng với đối tác 8 2 Vốn lưu động thường xuyên nhỏ hơn 0 31 3 GTTT của doanh nghiệp nhỏ hơn tổng nợ phải trả 70 4 Có 1 trong 3 dấu hiệu trên 73 (Nguồn số liệu từ tính toán của tác giả) 2.2 Lựa chọn biến độc lập Để áp dụng phân tích hồi quy Logistic, trong quá trình xây dựng mô hình cần phải xác định rõ biến nào là biến độc lập và biến phụ thuộc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Biến phụ thuộc có nhiều phạm trù, mỗi phạm trù đại diện cho một nhóm và biến này có khả năng phân biệt tốt nhất và duy nhất trên cơ sở tập hợp biến độc lập được lựa chọn, nói cách khác là mỗi quan sát phải được sắp xếp vào một nhóm duy nhất.
Trong nghiên cứu này biến phụ thuộc (Y) được lựa chọn như sau: Yi = (1 nếu có nguy cơ phá sản, 0 nếu không có nguy cơ phá sản) Sau khi lựa chọn được biến phụ thuộc, bước tiếp theo phải xác định biến độc lập sẽ được sử dụng trong phân tích. Việc lựa chọn biến độc lập thường được tiến hành theo 2 cách. Cách tiếp cận đầu tiên là dựa trên cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu từ trước. Cách tiếp cận thứ hai là trực giác dựa trên cơ sở kiến thức của các chuyên gia và trực giác lựa chọn những biến chưa có nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết hợp lí.
Trong cả hai cách, những biến độc lập được lựa chọn là những biến có ảnh hưởng đến khả năng phân biệt giữa các nhóm của biến phụ thuộc.