đặt vấn đề tiêm phòng trƣớc? Ai là ngƣời quyết định? Bạn có thảo luận với ai về việc tiêm phòng này không? Có ai giúp bạn đƣa ra quyết định tiêm phòng này không? Ai tác động, bằng cách nào và khi nào? Tại sao bạn không cho con gái bạn tiêm phòng đầy đủ? Có mối lo ngại nào khiến bạn không cho con gái bạn tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung không? Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố chính ảnh hƣởng đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung bao gồm nhận thức về rủi ro bệnh tật và lợi ích mang lại từ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung, tin tƣởng vào chƣơng trình tiêm chủng của Chính phủ và lợi ích kinh tế mang lại từ tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Các yếu tố chủ yếu dẫn đến không tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung bao gồm lo ngại độ an toàn của vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung, lo ngại về các tác dụng phụ, sợ chất lƣợng thuốc không đảm bảo, cho rằng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung là để thử nghiệm… Ngoài ra, nghiên cứu còn mô tả quá trình đi đến quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung, theo đó, nhiều bậc phụ huynh đã đƣa ra quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung dựa trên sự tác động của bạn bè, gia đình. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhƣ Tú và cộng sự (2017) đƣợc tiến hành tại 30 xã của tỉnh Bình Định trong năm 2017. Nhóm tác giả tiến hành khảo sát 1.200 phụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 24 nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 - 49) bằng bảng câu hỏi có cấu trúc đã đƣợc chuẩn bị trƣớc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phụ nữ không có kiến thức về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung là 68.6% và tỷ lệ phụ nữ đã đƣợc tiêm phòng HPV là 2. Tỷ lệ phụ nữ chƣa từng nghe về vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung là 50% và chƣa đƣợc cán bộ y tế tƣ vấn về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung là 13. Yếu tố thiếu thông tin (63.8%) và giá thành của vắc - xin phòng HPV cao (26.3%) chính là hai rào cản lớn nhất khiến phụ nữ chƣa tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Nghiên cứu cũng cho thấy kiến thức có ảnh hƣởng đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung.
Bên cạnh đó, nghiên cứu chƣa tìm thấy có mối liên quan giữa kinh tế hộ gia đình và tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Song song đó, nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ ngƣời Kinh có kiến thức về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung tốt hơn đồng bào dân tộc. Nghiên cứu ở nƣớc ngoài Nghiên cứu của Songthap và cộng sự (2012) nhằm đánh giá kiến thức, thái độ về vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung và ung thƣ cổ tử cung, nghiên cứu mối quan hệ của những yếu tố này với sự chấp nhận tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung của học sinh, phụ huynh và giáo viên Trung học cơ sở ở Thái Lan. Tổng cộng có 644 học sinh từ 12 đến 15 tuổi, 644 phụ huynh và 304 giáo viên tham gia nghiên cứu.
Bảng câu hỏi đo lƣờng kiến thức của đáp viên bao gồm các câu hỏi đánh giá kiến thức cơ bản về việc nhiễm và hậu quả của nhiễm HPV, kiến thức về ung thƣ cổ tử cung bao gồm nguyên nhân, rủi ro bệnh, hậu quả và biện pháp sàng lọc, những câu hỏi về độ an toàn, hiệu quả và lợi ích của việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Điểm số phản ánh kiến thức chính là số lƣợng câu trả lời đúng của ngƣời tham gia nghiên cứu. Thái độ đƣợc đo lƣờng thông qua các câu hỏi liên quan đến việc nhiễm HPV, ung thƣ cổ tử cung, hiệu quả và lợi ích của vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Các câu hỏi liên quan đến quy trình tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung nhƣ thủ tục, chi phí, lợi ích và mục tiêu của việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung.
Để đo lƣờng điểm số Thái độ, Songthap và cộng sự (2012) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 25 sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (1 - Rất không đồng ý; 5 Rất đồng ý). Những ngƣời đƣợc xem là có thái độ tiêu cực đối với việc tiêm phòng nếu có điểm số bình quân dao động từ 1 đến 2.33, có thái độ trung lập nếu có điểm số bình quân từ 2.67, nếu điểm số dao động từ 3.68 đến 5 thì đƣợc đánh giá là có thái độ tích cực về việc tiêm phòng. Songthap và cộng sự (2012) sử dụng phƣơng pháp so sánh giá trị trung bình để nghiên cứu sự khác biệt về kiến thức và thái độ đối với việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung giữa các nhóm đối tƣợng đƣợc phân loại theo giới tính, học vấn, tuổi… Kết quả nghiên cứu cho thấy, 41% phụ huynh muốn con của họ đƣợc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Học sinh, phụ huynh và giáo viên đƣợc đánh giá có kiến thức trung bình về HPV, ung thƣ cổ tử cung và vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung với điểm số trung bình lần lƣợt là 6.
Thái độ của học sinh, phụ huynh và giáo viên về HPV đều khá tƣơng đồng, dao động ở mức 3.47) trên thang điểm 5. Trong số mẫu nghiên cứu, 20% học sinh và 36% phụ huynh đồng ý trả từ 14.5 USD cho mỗi liều vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung và 33% giáo viên đồng ý trả dƣới 14.3 USD cho mỗi liều vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Khám phá của nghiên cứu đã chỉ ra chi phí thấp là yếu tố có ảnh hƣởng mạnh đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung, thái độ và kiến thức về HPV là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung, và hai yếu tố này khá tƣơng đồng giữa những phụ huynh và giáo viên. Nghiên cứu của Chando và cộng sự (2013) tập trung xem xét ảnh hƣởng của ngôn ngữ đến việc tiêm phòng HPV giữa những ngƣời có cha mẹ nói tiếng Tây Ban Nha so với những ngƣời có cha mẹ nói tiếng Anh ở Mỹ.
Bên cạnh ngôn ngữ, đặc điểm kinh tế xã hội đƣợc đo lƣờng bằng trình độ học vấn và thu nhập bình quân cùng với yếu tố tiếp cận chăm sóc sức khỏe đo lƣờng bằng bảo hiểm y tế kết hợp với nguồn lực thông thƣờng trong chăm sóc sức khỏe cũng đƣợc xem xét trong mô hình nghiên cứu. Phƣơng pháp thống kê mô tả, so sánh giá trị trung bình và hồi quy Logit đƣợc vận dụng để phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khoảng 1/3 mẫu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 26 nghiên cứu có cha mẹ nói tiếng Tây Ban Nha và ít trẻ có cha mẹ nói tiếng Tây Ban Nha đƣợc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung hơn so với trẻ có cha mẹ nói tiếng Anh (12% so với 20%). Kết quả so sánh giá trị trung bình cho thấy cha mẹ nói tiếng Tây Ban Nha ít cho con mình tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung hơn so với cha mẹ nói tiếng Anh.
Khi phân tích đa biến, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung đã không còn ý nghĩa thống kê khi bổ sung vào mô hình yếu tố thu nhập và tiếp cận dịch vụ y tế. Từ kết quả trên, Chando và cộng sự (2013) nhận định rằng sự can thiệp bằng cách giải quyết vấn đề tiếp cận chăm sóc y tế có thể làm giảm ảnh hƣởng tiêu cực của ngôn ngữ đến hành vi tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014) đƣợc thực hiện ở Hồng Kông nhằm khám phá những nhân tố ảnh hƣởng đến ý định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả, kiểm định Chi-square, kiểm định t- test và hồi quy Logit đa biến, Lee và cộng sự (2014) chỉ ra 6.7% ngƣời tham gia nghiên cứu đã tiêm phòng HPV, 34.8% có ý định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung và gần 60% trả lời đang suy nghĩ về việc tiêm phòng HPV (cần thêm thông tin về vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung).
Những yếu tố đƣợc xem là rào cản chính của việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung chính là chi phí vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung, sợ tác dụng phụ, còn nhỏ tuổi, cho rằng bản thân không cần và sợ tiêm. Song song đó, nhận thức về sự nguy hiểm của bệnh ung thƣ cổ tử cung, lời khuyên từ bác sĩ, sự ủng hộ của gia đình, nhận thức về hiệu quả của vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung và ý niệm rằng tất cả phụ nữ đều nên tiêm phòng (33.5%) chính là những yếu tố có ảnh hƣởng tích cực đến việc tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung. Ngoài ra, những ngƣời có mẹ có trình độ học vấn trên Trung học cơ sở, có thu nhập hộ gia đình trên 30.000$ HK, ngƣời cho rằng chi phí vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung là phù hợp hoặc đƣợc tiếp nhận thông tin về vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung từ ngƣời thân, ngƣời có kiến thức tốt, nhận thức đƣợc sự nguy hiểm của bệnh ung thƣ cổ tử cung hoặc ngƣời sẵn sàng thay đổi thói quen sau khi biết cách phòng tránh ung thƣ sẽ có khả năng có ý định/ quyết định tiêm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 27 phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung cao hơn những ngƣời khác. Kết quả hồi quy Logit cũng cho thấy những ngƣời nhận thức đƣợc sự nguy hiểm của bệnh ung thƣ, ngƣời có đƣợc thông tin về HPV từ ngƣời thân và ngƣời cho rằng trƣờng học nên phổ biến thêm về vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung là những ngƣời có khả năng đƣa ra ý định/ quyết định tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung cao hơn những ngƣời khác.
Nghiên cứu của Chiang và cộng sự (2016) nhằm mục tiêu tìm hiểu về thái độ, khả năng chấp nhận và kiến thức về tiêm phòng vắc xin ngừa ung thƣ cổ tử cung của sinh viên Đại học ở Hồng Kông.