phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Phân tích tài chính doanh nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích tài chính tại Công ty TNHH thƣơng mại và dịch vụ tổng hợp Hà Cƣờng Chƣơng 4: Một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH thƣơng mại và dịch vụ tổng hợp Hà Cƣờng 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm, vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp: 1.1 Khái niệm: Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phƣơng pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lƣợng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó. Từ đó giúp các đối tƣợng quan tâm đi đến những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, để đƣa ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thực hiện ba chức năng cơ bản là: chức năng đánh giá, chức năng dự báo và chức năng điều chỉnh. Với chức năng đánh giá, phân tích tài chính doanh nghiệp phải làm rõ những vấn đề nhƣ việc tạo lập, phân phối, sử dụng vốn diễn ra nhƣ thế nào và ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh ra sao, xem xét những kết quả đạt đƣợc có đúng hay vƣợt mục tiêu, kế hoạch đề ra hay không.
Với chức năng dự báo, phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp thấy đƣợc tiềm lực tài chính, sự vận động của nguồn vốn trong tƣơng lai, đặc biệt phải nhận thấy đƣợc tình hình tài chính trong chu kỳ kinh doanh tới, điều này sẽ giúp doanh nghiệp có những hành động hợp lý để đạt đƣợc những mục tiêu đề ra. Căn cứ vào chức năng đánh giá và chức năng dự báo, phân tích tài chính doanh nghiệp thực hiện chức năng điều chỉnh, luôn luôn thực hiện chức năng này để những yếu tố bị lệch lạc đi vào đúng hƣớng, nhằm giúp doanh nghiệp đạt đƣợc những mục tiêu, kế hoạch đề ra. Phân tích tài chính là mối quan tâm của các nhà quản trị cũng nhƣ nhiều đối tƣợng khác từ khi nƣớc ta chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế. Tuy nhiên, 9 phân tích vấn đề gì, vận dụng phƣơng pháp phân tích nào để tạo ra một bức tranh tổng thể về hoạt động tài chính của doanh nghiệp là một câu hỏi lớn đối với nhà phân tích do những thay đổi về chính sách kinh tế - tài chính, sự khác biệt về quan điểm phân tích, khả năng thu thập và xử lý số liệu tài chính.2 Vai trò của Phân tích tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng với hoạt động của doanh nghiệp, đƣợc thể hiện ở một số mặt sau : - Đảm bảo vốn cho doanh nghiệp : Để tiến hành sản xuất kinh doanh, điều kiện tiên quyết là các doanh nghiệp phải có vốn tiền tệ.
Vốn tiền tệ đƣợc sử dụng vào vô số các hoạt động mua sắm, xây dựng nhà xƣởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, thuê lao động, khen thƣởng hay cải tiến kỹ thuật. Việc thừa vốn hay thiếu vốn tiền tệ đều là những dấu hiệu không tốt trong quản lý vốn tiền tệ tại doanh nghiệp, đặc biệt là khi doanh nghiệp bị thiếu vốn. Điều này sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp bị ngƣng trệ. Do vậy, đảm bảo đủ vốn của doanh nghiệp kinh doanh bình thƣờng, liên tục là vai trò không thể thiếu của tài chính doanh nghiệp bởi dòng tiền chính là dòng máu của doanh nghiệp.
Để thực hiện đƣợc vai trò này, doanh nghiệp phải có chính sách huy động vốn phù hợp, cụ thể nhƣ: huy động vốn từ nguồn nào, với số lƣợng vốn bao nhiêu, mức chi phí sử dụng vốn của từng nguồn… - Nâng cao hiệu quả kinh doanh : Sau khi đã huy động vốn, bƣớc tiếp theo là doanh nghiệp phải biết cách sử dụng đồng vốn huy động sao cho có hiệu quả, tức là thực hiện chính sách đầu tƣ vốn, đƣa ra quyết định đầu tƣ đúng đắn phụ thuộc rất lớn vào việc lựa chọn dự án đầu tƣ. Một khi nguồn vốn đƣợc huy động kịp thời và đầy đủ sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt đƣợc các cơ hội kinh doanh, đồng thời, huy động tối đa vốn hiện có vào kinh doanh sẽ hạn chế đƣợc những thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay của vốn, từ đó gia tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. 10 - Kiểm soát tình hình kinh doanh: Thông qua dòng tiền ra, dòng tiền vào và cả dòng tiền thuần cả từng hoạt động trong doanh nghiệp, nhà quản lý có thể nắm bắt đƣợc tình hình kinh doanh, phát hiện nhanh những bất ổn của từng hoạt động, từ đó đƣa ra những quyết định đúng đắn để hƣớng các hoạt động theo những mục tiêu và kế hoạch chung của toàn doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trƣờng, những vai trò của tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng hơn, bởi lẽ hoạt động tài chính doanh nghiệp ảnh hƣởng đến tất cả các hoạt động khác trong doanh nghiệp, quyết định về huy động vốn và đầu tƣ vốn ngày càng ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả kinh doanh, những thông tin tài chính là căn cứ quan trọng để kiểm soát doanh nghiệp.2 Phƣơng pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Phƣơng pháp đƣợc sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanh nghiệp là Phƣơng pháp so sánh.
Phƣơng pháp này đo lƣờng các chỉ tiêu với nhau để thấy đƣợc sự thay đổi của cá chỉ tiêu đang nghiên cứu. Khi đó cần phải có một tiêu chuẩn hay gốc để đối chiếu và các số liệu sau thƣờng đƣợc sử dụng : - Tài liệu kỳ trƣớc (năm trƣớc, quý trƣớc, tháng trƣớc) - Các mục tiêu đã đề ra (kế hoạch, dự toán, định mức) - Các chỉ tiêu tƣơng ứng của những doanh nghiệp cùng ngành hay số trung bình của ngành đó Để phƣơng pháp này có ý nghĩa và đảm bảo việc so sánh đƣợc các chỉ tiêu phân tích phải đƣợc thống nhất cả về mặt thời gian và không gian. Các kỹ thuật hay cách thức so sánh của phƣơng phpas này là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tƣơng đối và so sánh bằng số bình quân. Một phƣơng pháp có thể đƣợc coi là một dạng đặc biệt của phƣơng pháp so sánh, đó là phƣơng pháp tỷ lệ hay phƣơng pháp phân tích bằng các tỷ số tài 11 chính.
Các tỷ số tài chính là những công cụ cơ bản để diễn đạt các BCTC. Việc phân tích các tỷ số tài chính sử dụng các số liệu ở BCTC và trình bày kết quả theo những mảng nội dung nhất định. Các nhà phân tích xem xét những kết quả này với số liệu của những doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc số trung bình của ngành đó. Ƣu điểm của việc phân tích tỷ số tài chính còn ở chỗ, thậm chí nó giúp so sánh đƣợc hiệu quả kinh doanh của những doanh nghiệp không cùng lĩnh vực hoạt động hay quy mô sản xuất.
Nhiều tỷ số chính đƣợc sử dụng nhƣng có thể đƣợc chia thành bốn nhóm chính sau: phân tích khả năng thanh toán, phân tích khả năng trả nợ, phân tích cấu trúc tài chính (đòn bẩy tài chính) và phân tích khả năng sinh lời. Tùy theo mục đích nghiên cứu của từng đối tƣợng sử dụng thông tin mà những tỷ số tài chính này có thể có mang nhiều thông tin hơn so với những tỷ số khác. Vì vậy, các nhà phân tích có kinh nghiệp không tính toán các tỷ số một cách rời rạc mà phải xem xét các chỉ tiêu trong mối quan hệ với nhau để hiểu đƣợc bản chất của vấn đề. Để đạt đƣợc kết quả có ý nghĩa, nhà phân tích so sánh những tỷ số này qua một thời kỳ gồm nhiều năm so sánh với tiêu chuẩn, xem xét sự biến đổi này so với chuẩn mực và kiểm tra chéo những tỷ số này với nhau để giúp phát hiện xu hƣớng biến động của chúng.
Tuy nhiên, việc phân tích dựa vào các tỷ số tài chính này cũng có những hạn chế nhất định. Thứ nhất, phân tích tỷ số chỉ giải quyết với những số liệu định lƣợng chứ không xem xét những yếu tố định tính nhƣ giá trị đạo đức hay trình độ của ngƣời quản lý, trách nhiệm của ngƣời lao động. Thứ hai, nhà quản lý có thể đƣa ra những quyết định ngắn hạn trƣớc ngày lập các báo cáo để tác động đến các tỷ số. Ví dụ, một doanh nghiệp có thể cái thiện tỷ lệ thanh toán hiện hành bằng cách trả bớt những khoản nợ ngắn hạn ngay trƣớc thời điểm lập BCĐKT.
Thứ ba, sự so sánh tỷ số giữa các doanh nghiệp có thể dẫn đến sự hiểu nhầm vì sự khác nhau trong thực tế công tác kế toán ở các lĩnh 12 vực nhƣ: tính khấu hao, ghi nhận thu nhập và tài sản vô hình hay năm tài chính khác nhau. Vì vậy, các nhà phân tích thƣờng phải đặt các doanh nghiệp trên một cơ sở kế toán có thể so sánh đƣợc trƣớc khi so sánh các tỷ số. Thứ tƣ, có những tỷ số có tên gọi giống nhau nhƣng các nhà phân tích đôi khi lại sử dụng định nghĩa hoặc công thức khác nhau nên có thể dẫn đến sự hiểu lầm khi so sánh và diễn giải giữa các doanh nghiệp. Thứ năm, kết quả kế toán đƣợc tính theo giá trị lịch sử của tiền tệ hay tuân thủ nguyên tắc giá gốc.
Trong khi một sự thay đổi trong sức mua của đồng tiền do lạm phát có thể làm sai lệch tính so sánh đƣợc của các chỉ tiêu vì chúng đƣợc tính toán ở những thời điểm khác nhau. Thứ sáu, nếu chỉ có một tỷ số thì không có ý nghĩa gì. Điều tạo nên sự phù hợp của một tỷ số ở doanh nghiệp đƣợc quyết định bởi ngành của nó, chiến lƣợc quản lý và tình trạng của nền kinh tế. Kết luận của một tỷ số tốt hay xấu là một sự nhầm lẫn.
Nói cách khác, tỷ số tài chính phải đƣợc đánh giá trong sự kết hợp với hoạt động của doanh nghiệp trong quá khứ và so sánh trong bối cảnh của những doanh nghiệp cùng ngành của chúng. Cuối cùng, các tỷ số phải dựa trên các BCTC công khai phản ánh quá khứ chứ không phải tƣơng lai. Trừ phi những chỉ tiêu này đáng tin cậy, nếu không sẽ rất khó đƣa ra những dự đoán hợp lý về xu hƣớng tƣơng lai.