CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số đặc điểm chung về từ Tiếng Việt 1.1 Khái niệm về từ trong tiếng Việt Để làm cơ sở nghiên cứu đề tài, chúng tôi thống nhất đi theo quan điểm về từ của Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học ( như quan hệ về số, về giống ) và cú pháp trong câu (nằm trong một kiểu câu nhất định) mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. Một số đặc điểm cơ bản của từ tiếng Việt 1. Đặc điểm về cấu tạo từ Như ta đã biết đơn vị cơ bản của cấu tạo từ trong tiếng Việt là hình vị Trong đó từng đơn vị cơ bản đó bằng phương thức cấu tạo trong tiếng Việt như: Phương thức chuyển nghĩa, phương thức ghép, phương thức láy để tạo ra các loại từ sau: từ đơn, từ ghép và từ láy.
Từ đơn: Xét về cấu tạo ở mặt số lượng tiếng thì từ đơn là những từ chỉ chứa một tiếng. Ví dụ: ông, bà, xe … b. Từ ghép: “Là từ chứa hai (hơn hai) từ tố và trong đó nhìn chung không có hiện tượng “Hòa phối ngữ âm tạo nghĩa”. Về mặt ngữ pháp, trước hết từ ghép được chia thành hai nhóm lớn theo kiểu quan hệ giữa các từ tố; từ ghép đẳng lập (còn gọi là từ ghép song song ) và từ ghép chính phụ” - Từ ghép đẳng lập: Có quan hệ ngữ pháp giữa các từ tố trong nó là quan hệ bình đẳng; ý nghĩa ngữ pháp do cơ chế ghép đẳng lập tạo ra là ý nghĩa tổng hợp, ý nghĩa chỉ loại sự vật, đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ) chung.
- Từ ghép chính phụ: quan hệ ngữ pháp giữa các từ tố trong nó là quan hệ bất bình đẳng, quan hệ chính phụ. Trong đó yếu tố chính thường giữ vai trò 10 chỉ loại sự vật lớn, đặc trưng lớn, yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, loại đặc trưng đó; kiểu ý nghĩa của từ ghép chính phụ là kiểu ý nghĩa không tổng hợp và khi cần cụ thể hóa nó thì có thể phân biệt trong đó ý nghĩa dị biệt và ý nghĩa sắc thái hóa; trong nhiệm vụ cụ thể hóa tên gọi sự vật, đặc trưng, từ tố phụ về ngữ pháp thường có trọng lượng nghĩa lớn hơn từ tố chính (ví dụ: xe đạp, xe máy, xe ngựa…). Đặc điểm về từ loại Hệ thống từ loại tiếng Việt theo Diệp Quang Ban- Hoàng Văn Thung bao gồm những từ loại sau đây: Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ; số từ; đại từ. Nhóm 2: Phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ).
Như vậy theo hai tác giả trên hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm và một nhóm là thực từ và một nhóm là hư từ. Danh từ: danh từ là những từ mang ý nghĩa chỉ thực thể. Danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm danh từ; có khả năng kết hợp với các đại từ chỉ định; này, kia, ấy, nọ…; có khả năng kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ. Danh từ thường làm chủ ngữ trong câu và đây là chức năng cú pháp chính của danh từ.
Danh từ được phân làm hai loại, trong đó có: danh từ riêng (chỉ tên riêng của từng người, từng sự vật cụ thể…) và danh từ chung là từ chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụ thể được gọi tên. Động từ là từ biểu thị ý nghĩa hoạt động, quá trình, trạng thái của đối tượng. Động từ làm trung tâm trong cụm động từ. Các từ chứng tiêu biểu của động từ là các phụ từ: hãy, đừng, chớ, đã, đang… Chức năng cú pháp chính của động từ là thường làm vị ngữ trong câu.
Ta có thể chia động từ thành hai loại lớn dựa vào bản chất nghĩa – ngữ pháp của động từ,: Những động từ độc lập và những động từ không độc lập. Những động từ tự thân có nghĩa, chúng có thể dùng độc lập, không cần một động từ khác đi kèm là động từ độc lập. Những động từ biểu thị tình thái vận động, quá trình nhưng tự thân chưa mang nghĩa trọn vẹn là động từ không độc lập. 11 Tính từ: là lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình).
Tính từ thường làm thành tố trung tâm trong cụm tính từ. Tính từ thường kết hợp với các phó từ như: rất, hơi, quá, lắm… Chức năng cú pháp chính của tính từ thường làm vị ngữ trong câu. Có thể chia tính từ thành các tiểu loại dựa vào nghĩa và khả năng kết hợp của tính từ (về ngữ pháp) như sau: Những tính từ chỉ đặc trưng, tính chất tuyệt đối (không được đánh giá theo thang độ). Ví dụ: đỏ lòm, trắng phau, đen sì, xanh mượt, riêng, chung, công, tư, chính, phụ, công cộng, …; Những tính từ chỉ đặc trưng thuộc về phẩm chất (được đánh giá theo thang độ).
Tính từ chỉ đặc trưng về màu sắc, mùi vị. Ví dụ: xanh, thơm, thối, cay, ngọt, nhạt… Số từ là những từ biểu thị ý nghĩa số. Số từ thường được dùng kèm với danh từ để biểu thị số lượng sự vật nêu ở danh từ. Số từ có đặc điểm là có thể có từ kèm bổ nghĩa cho nó (nhưng hạn chế ) như: độ, chừng, khoảng, hơn, ngót… Có thể đảm nhiệm một số chức năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ không nhiều.
Căn cứ vào nghĩa số từ được phân ra làm hai loại là số từ xác định và số từ không xác định. Những từ chỉ ý nghĩa số lượng chính xác, có thể dùng để đếm, để tính toán về số lượng của sự vật như: một, hai, năm, trăm, bốn phần năm… thuộc số từ xác định. Những từ biểu thị số không chính xác là số từ không xác định. Loại số từ không xác định có số lượng không nhiều lắm.
Ví dụ: vài, dăm, mươi, vài ba, đôi ba, dăm ba, một vài, bảy, mấy. Số từ gần với thực từ hơn so với đại từ, vì nó còn có những nét nghĩa chân thực, cụ thể. Tuy nhiên ý nghĩa số từ cũng có tính chất hư. Đại từ: là lớp từ dùng để thay thế và chỉ trỏ.
Nghĩa của đại từ là biểu thị các quan hệ định vị bao hàm cả nghĩa trỏ và thay thế. Sự thay thế ở đây chỉ được thực hiện đối với cái đã được gọi tên, cái đã được nói tới và được biết tới trước đó. Chú ý đây là không phải là thay thế về từ loại mà chỉ là thay thế về mặt cú pháp. Khả năng kết hợp của đại từ không rộng.
Phụ từ là cách gọi chung cho định từ và phó từ: 12 - Định từ : là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu ở danh từ, chuyên dùng kèm với danh từ, với chức năng làm thành tố phụ trong kết hợp từ có trung tâm ngữ nghĩa – ngữ pháp là danh từ (cụm danh từ). - Phó từ: thường đi cùng và bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ. Phó từ thuộc hư từ. Chúng biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng trong hiện thực.
Kết từ: là những từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh. Dựa vào các kiểu ý nghĩa quan hệ (quan hệ cú pháp) được thể hiện bằng kết từ, có thể chia thành hai lớp: lớp kết từ chính phụ và lớp kết từ đẳng lập. Tiểu từ: là những từ biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa chủ thể phát ngôn với nội dung phản ánh; hoặc biểu thị quan hệ giữa phát ngôn với nội dung phản ánh; ý nghĩa quan hệ của tiểu từ là ý nghĩa quan hệ có tính tình thái. - Trợ từ: là từ loại biểu thị ý nghĩa tình thái bằng cách nhấn mạnh vào từ, kết hợp từ… có nội dung phản ánh liên quan đến thực tại mà người nói muốn lưu ý với người nghe.
Chúng được dùng để nhấn mạnh vào một chi tiết nào đó hoặc để biểu thị đánh giá của ngưới nói đối với một sự tình trong câu. Trợ từ không có khả năng làm trung tâm trong cụm từ. Nó có thể đứng trước từ mà nó bổ sung ý nghĩa tình thái. Không có khả năng làm thành phần câu.
Ví dụ: chính, tự, ngay, cả, những, hang, đích, đích thị, là… - Tình thái từ: là từ loại để biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ của chủ thể phát ngôn với người nghe hay với nội dung được phản ánh, hoặc ý nghĩa tình thái gắn với mục đích phát ngôn. Tình thái từ mang những sắc thái đa dạng nhưng lại có số lượng không nhiều. Nhờ tình thái từ mà người nói (người viết) có thể bày tỏ được với người nghe, hoặc thể hiện trong nội dung câu nói những sắc thái tình cảm và thái độ tế nhị. Tình thái từ không có mối liên hệ hình thức với từ đứng trước hoặc sau chúng.
Tình thái từ thường làm dấu hiệu chỉ rõ mục đích phát ngôn của câu. Tình thái từ nghi vấn: à, ừ, nhỉ, 13 nhé, chứ, chăng, hử…; Tình thái từ cầu khiến : đi, thôi, nào, với…; Tình thái từ thể hiện thái độ ngạc nhiên : nhỉ, ư…; Tình thái từ cảm thán: thay, sao…; Tình thái từ biểu hiện cảm xúc: a, á, ạ,vậy, mà, cơ… 1.3 Đặc điểm về nguồn gốc Theo Mai Ngọc Chử- Vũ Đức Nghiệu- Hoàng Trọng Phiến: “ Trên thực tế, hầu như không có từ vựng của ngôn ngữ nào lại chỉ hình thành, xây dựng bằng con đường “tự nó”. Trong những ngôn ngữ được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp người ta vẫn có thể thấy hàng loạt từ ngữ mà chúng vay mượn, hoặc vốn có nguồn gốc từ ngôn ngữ khác”. Qua tìm hiểu, các nhà nghiên cứu khẳng định tiếng Việt của chúng ta cũng vậy, các nhà ngôn ngữ chỉ rõ hai lớp từ ngữ : lớp từ bản ngữ của người bản địa (còn gọi là lớp từ thuần Việt) và lớp từ có nguồn gốc vay mượn (còn gọi là lớp từ ngoại lai).