mở đầu cho việc nghiên cứu tập thơ theo một hƣớng đi mới – phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tập thơ dựa trên yếu tố ngôn ngữ là từ Hán Việt. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là từ Hán Việt trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Phạm vi nghiên cứu: Quốc âm thi tập, gồm 254 bài thơ. Tập thơ nằm ở giai đoạn văn học Trung đại.
Phƣơng pháp nghiên cứu Xuất phát từ mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi sử dụng những phƣơng pháp cụ thể để tiến hành nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của luận văn nhƣ sau: Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành: để thấy đƣợc mối quan hệ của ngôn ngữ và văn học, phát huy đƣợc giá trị của ngôn ngữ trong việc thể hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. 5 Phƣơng pháp so sánh: Để thấy đƣợc đặc điểm của việc dùng từ Hán Việt trong Quốc âm thi tập, chúng tôi có so sánh từ Hán Việt đƣợc sử dụng trong Quốc âm thi tập với Bạch Vân Quốc âm ngữ thi. Phƣơng pháp thống kê: Dựa vào Quốc âm thi tập, luận văn thống kê các từ Hán Việt đƣợc sử dụng theo một số tiêu chí đã đƣợc định hƣớng. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: Đây là phƣơng pháp đƣợc vận dụng trong khi miêu tả từ Hán Việt về cấu tạo, ngữ nghĩa, khái quát các đặc điểm của từ Hán Việt theo những phƣơng diện nhất định.
Phƣơng pháp tiểu sử: Vận dụng phƣơng pháp tiểu sử giúp tôi có cái nhìn đúng đắn hơn để lí giải những vấn đề trong tác phẩm, hiểu rõ hơn về quan niệm sáng tác cũng nhƣ nguồn mạch cảm hứng của tác giả. Kết cấu luận văn Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Chƣơng 2. TẦN SUẤT SỬ DỤNG VÀ PHÂN LOẠI TỪ HÁN VIỆT TRONG QUỐC ÂM THI TẬP Chƣơng 3.
GIÁ TRỊ CỦA TỪ HÁN VIỆT TRONG QUỐC ÂM THI TẬP 6 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Trong chƣơng này, những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài đƣợc luận văn quy về hai nội dung lớn: (1) Những cơ sở lý thuyết về từ Hán Việt; (2) Nguyễn Trãi và Quốc âm thi tập. Trình bày về hai nội dung này, mục đích của luận văn là đƣa ra những cơ sở lí luận cơ bản về từ Hán Việt từ đó làm tiền đề cho việc khảo sát từ Hán Việt trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Nguồn gốc và quá trình hình thành từ Hán Việt Xét về mặt địa lí, Việt Nam và Trung Quốc là hai nƣớc tiếp giáp nhau về biên giới.
Đây là điều kiện thuận lợi cho các mối quan hệ giao lƣu, tiếp xúc giữa ngƣời dân hai nƣớc, trong đó mối quan hệ về văn hoá, ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tƣ cách là công cụ giao tiếp có thể vƣợt qua không gian, thời gian và cả ranh giới quốc gia, dân tộc để tiếp xúc với nhau. Sự giao lƣu, tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Hán diễn ra dƣới nhiều hình thức, bằng con đƣờng truyền khẩu hay văn tự, các đơn vị gốc Hán du nhập vào vốn từ vựng tiếng Việt tạo nên một lớp từ vựng mới bồi lắp những chỗ thiếu hụt và làm phong phú hơn vốn từ vựng tiếng Việt (Hoàng Quốc, 2014). Vấn đề nguồn gốc từ Hán Việt có nội hàm nằm trong tên gọi “từ Hán Việt”.
Về cơ bản từ Hán Việt chính là những từ gốc Hán đƣợc du nhập vào tiếng Việt. Vũ Đức Nghiệu (2015) còn cho rằng từ Hán Việt “còn bao gồm cả những từ vốn không phải là gốc Hán, mà do ngƣời Hán mƣợn một ngôn ngữ khác, rồi ngƣời Việt vay mƣợn lại và đọc theo âm Hán Việt nhƣ các từ Hán Việt khác. Ví dụ, có những từ vốn xuất thân từ Nhật Bản nhƣ: trƣờng hợp, nghĩa vụ, phục tùng… Có những từ lại vốn xuất thân từ nguồn gốc Phạn: Phật, nát bàn, Di lặc…Có những từ lại vốn thuộc nguồn gốc châu Âu nhƣ: câu lạc bộ, Mạc Tƣ Khoa”. Các nhà nghiên cứu đã xem xét sự tiếp xúc văn hóa - ngôn ngữ Việt - Hán diễn ra theo từng giai đoạn.
Có hai giai đoạn của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ tiếng Hán và tiếng Việt: trƣớc thế kỉ X (thời kì Việt Nam còn chịu sự đô hộ của phong 7 kiến phƣơng Bắc) và sau thế kỉ X (kỉ nguyên độc lập của một quốc gia có chủ quyền) (Hoàng Quốc, 2014). Thời kỳ trƣớc thế kỷ thứ X: khoảng đầu Công nguyên, từ khi phƣơng Bắc đô hộ, tiếng Hán đã đƣợc sử dụng ở Giao Châu với tƣ cách là một sinh ngữ. Mặc dù ngƣời Hán muốn đồng hóa tiếng nói của dân tộc Việt, nhƣng tiếng Việt đã có cơ sở vững vàng từ trƣớc nên vẫn tiếp tục đƣợc tồn tại. Trải qua hàng ngàn năm, một số lẻ tẻ từ Hán thƣờng dùng đã đƣợc ngƣời Việt mƣợn để lấp vào chỗ thiếu hụt trong tiếng Việt nhƣ: buồng, buồm, muộn, mây, muỗi, đục… Ngoài 113 yếu tố đơn tiết do Vƣơng Lực tìm ra và sau này tăng lên là 401 do Vƣơng Lực phát hiện thêm thì không thấy có một thành ngữ nào cả.
Sở dĩ có tình hình nhƣ vậy là do sức mạnh chống lại đồng hóa của ngƣời Việt ở mọi mặt, trong đó có ngôn ngữ. Ngƣời Việt học tiếng Hán, sử dụng tiếng Hán là học, sử dụng một ngoại ngữ. Thời kỳ này ở Giao Châu sử dụng hai loại ngôn ngữ: Việt ngữ và Hán ngữ, tức là một bên là tiếng Hán một bên là tiếng Việt bình dân và một loại chữ viết tức là chữ Hán. Theo nghiên cứu của Hồng Phong (1984): “Suốt thời kỳ Bắc thuộc, chữ Hán là ngôn ngữ Trung Quốc đƣợc dùng trong nhà nƣớc, nhà chùa, thờ cúng tổ tiên, sáng tác văn học, trong ghi chép giấy tờ hàng ngày.
Tổ chức hành chính theo Trung Quốc, phong tục tập quán theo Trung Quốc, Khổng giáo, Lão giáo của Trung Quốc truyền vào. Phật giáo cũng đƣợc truyền vào từ Trung Quốc là chính. Nhƣng điều đó không làm Việt Nam bị Trung Quốc hóa mà chỉ chịu ảnh hƣởng của Trung Quốc”. Cuối thời đô hộ ngƣời Hán mở nhiều trƣờng học, văn ngôn Hán đƣợc truyền bá rộng rãi cùng với kinh, sử, tử, tập.
Nhiều ngƣời Việt đã tinh thông chữ Hán và đã đỗ đạt cao, sang làm quan ở Trung Quốc, bên cạnh đó lại có những kinh Phật viết bằng chữ Hán. Qua thƣ tịch, lớp từ văn hóa của ngƣời Hán đƣợc phổ biến cho ngƣời Việt, nhiều từ biểu thị khái niệm trừu tƣợng của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo trong tiếng Hán đƣợc ngƣời Việt vay mƣợn để lấp khoảng trống thiếu hụt trong ngôn ngữ của mình. 8 Thời kỳ từ thế kỷ X: Việt Nam giành đƣợc độc lập tự chủ. Dù Việt Nam đã giành tự chủ nhƣng các triều đại phong kiến Việt Nam vẫn tiếp tục sử dụng tiếng Hán để xây dựng thể chế chính trị và văn hóa dân tộc, do tiếng Việt lúc ấy chƣa đủ khả năng để diễn đạt những khái niệm phức tạp.
Chúng ta còn tiếp thu một cách chủ động và có ý thức nhiều điều từ cách tổ chức hành chính đến cách tổ chức kinh tế, văn hoá, tƣ tƣởng để xây dựng quốc gia Đại Việt. Theo Hoàng Quốc (2014), trong các văn bản Nôm còn lƣu trữ lại, “các khái niệm trừu tƣợng đều đƣợc diễn đạt bằng chữ Hán. Chính quyền phong kiến Việt Nam vẫn sử dụng hệ thống hành chính theo mô hình Trung Quốc, chữ Hán vẫn đƣợc các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp tục sử dụng chính thức trong cơ quan hành chính, trƣờng học, khoa cử cũng nhƣ trong sáng tác văn học”. Ngƣời Việt Nam đã vận dụng chữ Hán theo cách riêng của mình, nhiều tinh hoa văn hoá chữ Hán đã đƣợc dân tộc Việt Nam hấp thụ, nhiều tác phẩm văn học, văn hoá của Việt Nam đã đƣợc viết bằng chữ Hán.
Nguyễn Văn Khang (2007) đã đánh giá về quá trình vay mƣợn chữ Hán của ngƣời Việt nhƣ sau: “Chính vào lúc sự tiếp xúc ngôn ngữ không bị ràng buộc bởi yêu cầu chính trị theo quan hệ chinh phục, nó lại đi sâu vào ngôn ngữ. Sự vay mƣợn lúc này đã đóng một vai trò của chính ngôn ngữ đi vay, không phải là sự cƣỡng ép”. Theo Nguyễn Tài Cẩn (2000): “Từ thế kỉ XI trở đi thì cách đọc Hán Việt mới tách hẳn ra thành một lối đọc độc lập với cách đọc ở Trung Nguyên và tồn tại độc lập với tƣ cách là hệ thống đọc riêng biệt của ngƣời Việt”. Lúc này tiếng Hán đã mất đi tƣ cách là một sinh ngữ; tiếng Hán không đƣợc đọc theo âm Hán của ngƣời Hán, tiếng Việt đã tạo ra âm Hán Việt là cách đọc chữ Hán của riêng ngƣời Việt trên địa bàn Việt Nam.
Tiếng Việt không tiếp xúc trực tiếp với tiếng Hán nhƣng số lƣợng từ ngữ Hán vào tiếng Việt thời kỳ này có thể nói là “ồ ạt”. Cũng theo Hoàng Quốc (2013): “Từ cái mốc đầu thế kỷ X về sau, tiếng Hán ở Việt Nam đã tách ra khỏi tiếng Hán ở Trung Quốc và phát triển theo con đƣờng riêng của mình, bị chi phối bởi quy luật ngôn ngữ (ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa) của tiếng Việt và cách sử dụng của ngƣời Việt, đặc biệt là về mặt ngữ âm. Từ khi xuất hiện âm đọc Hán Việt, 9 về mặt lý thuyết tất cả các chữ Hán vào Việt Nam bằng con đƣờng sách vở đều đƣợc đọc theo âm Hán Việt”. Việc tiếng Hán ở Việt Nam tách khỏi tiếng Hán ở Trung Quốc và phát triển theo con đƣờng riêng của mình đã là bƣớc Việt hóa đầu tiên và quan trọng đối với lớp từ vựng Hán nhập vào tiếng Việt.
Điều đáng chú ý là, ở Việt Nam lúc này, bên cạnh tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp khẩu ngữ hàng ngày của mọi từng lớp ngƣời trong xã hội thì văn tự Hán (với cách đọc Hán Việt, cách viết vừa theo ngữ pháp Hán cổ vừa theo ngữ pháp Việt) là ngôn ngữ sách vở, ngôn ngữ hành chính (sắc, lệnh, chiếu, chỉ), ngôn ngữ khoa cử, văn chƣơng. Cách gọi chữ Hán là chữ Nho (hay chữ Thánh Hiền) cũng xuất phát từ đây. Các nhà Nho là những ngƣời đi tiên phong trong việc truyền bá văn hoá, văn học Hán vào Việt Nam. Bối cảnh này giúp cho các đơn vị từ vựng Hán trong đó có cả thành ngữ Hán đƣợc du nhập vào tiếng Việt (Hoàng Quốc, 2003).
Khái niệm âm Hán Việt Trong việc nghiên cứu về từ Hán Việt, nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra những định nghĩa khác nhau về âm Hán Việt.