Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA TỐNG NGỌC HÂN 1. Văn hóa và nghiên cứu văn hóa 1. Khái niệm văn hóa Chúng tôi rất tán thành khái niệm Văn hóa của Trần Ngọc Thêm, mặc dù có rất nhiều định nghĩa về Văn hóa đang tồn tại trên thế giới. “Ngay từ thuở lọt lòng, chúng ta đã đắm mình trong chất men văn hoá: từ lời ru của mẹ, bài học của cha, trò chơi của chị… cho đến tiếng gọi đò bên sông, tiếng võng đưa kẽo kẹt lúc trưa hè, tiếng chuông buông khi chiều xuống… – tất cả, tất cả những sự kiện đó, những ấn tượng đó, những âm thanh đó, những hình ảnh đó… đều thuộc về văn hóa.
Cái tinh thần như tư tưởng, ngôn ngữ… là văn hoá; cái vật chất như ăn, ở, mặc… cũng là văn hoá. Chính văn hoá đã nuôi chúng ta lớn, dạy chúng ta khôn. Người ta nói: văn hóa ẩm thực, văn hoá trang phục, văn hoá ứng xử, văn hoá tiêu dùng, văn hoá kinh doanh, văn hóa chính trị, văn hoá Đông Sơn, văn hoá Hoà Bình, văn hoá rìu vai… Từ "Văn hoá" có biết bao nhiêu là nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau”. [88] Văn hóa là một khái niệm phức tạp và có nội hàm hết sức rộng.
Theo như tác giả Trần Ngọc Thêm, văn hóa là toàn bộ môi trường sống của con người bao gồm từ những sản phẩm tinh thần và vật chất. Tuy nhiên để đưa ra một khái niệm cụ thể về khái niệm văn hóa là một vấn đề nan giải bởi văn hóa luôn được gắn với những tộc người, những quốc gia nhất định và nó luôn biến đổi qua từng thời kì của lịch sử. Bởi vậy, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát những yếu tố cốt lõi nhất của khái niệm văn hóa. Trong văn hóa phương Tây, văn hóa được định nghĩa là những gì thuộc về các quốc gia châu Âu cũng như các quốc gia bị ảnh hưởng bởi văn hóa châu Âu như Mỹ.
Văn hóa châu Âu có nguồn gốc từ giai đoạn cổ điển gắn với sự 11 trỗi dậy của Thiên chúa giáo vào thế kỷ XIV. Cho dến thế ki XIX, XX, gắn với sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân, văn hóa châu Âu đã lan tỏa khắp toàn cầu. Ở phương Tây cổ đại, khái niệm văn hóa gốc Hy Lạp, La Mã (cuture) có nghĩa đen là vun xới, trồng trọt. Mở rộng ra, nó ám chỉ sự rèn rùa, giáo dục và đào luyện.
Sang thời kì Phục Hưng ở Châu Âu, phá bỏ các quan niệm của “Đêm trường trung cổ” với tính chất giáo điều, kinh viện mà nhà thờ phong kiến xây dựng, văn hóa thường được đồng nghĩa với văn chương nghệ thuật. “Đó là thời kì mà lý trí con người được tôn sùng đến cao độ, người có văn hóa là người có lý trí phát triển cao, nhờ đó mà thành tựu được lý tưởng nhân bản. Các học giả nổi tiếng của kỷ nguyên ánh sáng như Vôn – te, Con đóc xê, Tuốc gô… đều cho rằng lịch sử phát triển văn hóa của loài người đồng thời cũng tức là lịch sử phát triển của lý trí. Một dân tộc có văn hóa khác với những bộ tộc dã man nguyên thủy dã man ở chỗ mọi thiết chế xã hội và chính trị của nó đều thấm nhuần lý trí, biểu hiện lý trí, cũng như trong những thành tựu khác của văn chương, nghệ thuật” [44] Đối lập với văn hóa phương Tây, văn hóa phương Đông là khái niệm dùng để chỉ những nguyên tắc xã hội của các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Han Quốc, Triều Tiên và Ấn Độ… Văn hóa phương Đông bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tôn giáo trong thời kì hình thành và phát triển như Phật giáo, Khổng giáo.
Đặc biệt nó gắn liền với các nền văn minh lúa nước. Theo tác giả Dorian Q. Fuller trong tác phẩm “Con đường tới các nền văn mình châu Á: Lần lại nguồn gốc của lúa và văn hóa lúa nước”, nhìn chung văn hóa phương Đông ít có sự khác biệt giữa xã hội thông thường và triết học tôn giáo so với phương Tây. “Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên, chiếm lĩnh quyền lực siêu nhiên.
Theo bộ Từ Hải (1989), văn hóa vốn là một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn trị và giáo hóa.” [94] 12 Tóm lại, văn hóa được đinh nghĩa từ ban đầu như những hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ, đức tin, giá trị trong các xã hội. Và theo như định nghĩa được đưa ra, văn hóa có hai thành phần cơ bản: vật chất và phi vật chất. Dạng phi vật chất bao gồm giá trị, đức tin, biểu tượng và ngôn ngữ định nghĩa xã hội. Dạng văn hóa vật chất bao gồm các đối tượng vật lý như các công cụ, công nghệ, trang phục… Về cơ bản, văn hóa được chia làm nhiều cấp độ: Văn hóa vùng miền hay còn gọi là văn hóa nhóm là văn hóa của các vùng miền, các nhóm người.
Mỗi vùng miền mang những đặc trưng văn hóa mà tạo thành sự khác biệt với các vùng khác. Mỗi vùng của một đất nước có thể có nhiều đặc trưng văn hóa khác nhau. Ví dụ như Việt Nam có thể chia ra làm văn hóa miền núi phía Bắc, đồng bằng bắc bộ hay Tây Nguyên… Văn hóa dân tộc là những thuộc tính và phẩm chất mà văn hóa tạo nên đặc thù của mỗi quốc gia. Nói cách khác mỗi quốc gia có những hoạt động và nghi lễ văn hóa khác nhau.
Tất nhiên, trong quá trình tương tác, giao lưu, có thể có những tính chất tương đồng nhưng về cơ bản sự khác biệt văn hóa tạo nên sự khác biệt giữa các cộng đồng người. Nó vừa có thể tạo ra sự phát triển những cũng có thể tạo ra sự xung đột. Đặc biệt khi các nền văn hóa bá quyền muốn đồng hóa các nền văn hóa nhỏ hơn. Trong thời kì hiện đại, cùng với sự phát triển của giao thông, địa lý, khoa học… các nền văn hóa có nhiều điều kiện giao lưu với tính chất xuyên quốc gia, xuyên châu lục.
Nó tạo thành nền văn hóa toàn cầu. Ở một khía cạnh khác, loài người về cơ bản theo đuổi những giá trị chung, đến một mức độ nào đó, nó sẽ trở thành giá trị mang tính chất nhân loại. Ví dụ với sự ảnh hưởng của Mỹ, tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ mang tính chất toàn cầu hay các sáng tác văn học đạt giải Nobel đã vươn lên tầm nhân loại khi nó chạm đến những vấn đề chung của cả thế giới. 13 Dựa trên những phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng văn hóa là một hiện tượng phức tạp, nhạy cảm và không ngừng biến đổi.
Việc can thiệp vào văn hóa là vô cùng nhạy cảm và cần có những nghiên cứu khoa học bởi nó có thể tạo ra những xung đột hay sự hủy diệt của cả một cộng đồng người. Nghiên cứu văn hóa Nghiên cứu văn hóa là một lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy liên ngành nhằm khám phá cách mà văn hóa tạo ra và biến đổi kinh nghiệm cá nhân, đời sống hàng ngày, mối quan hệ xã hội. Nghiên cứu văn hóa nhằm bộc lộ mỗi quan hệ giữa hiểu biết văn hóa như những hoạt động biểu tượng và hiểu biết văn hóa một cách đặc thù của cuộc sống. Với sự kết hợp giữa khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu văn hóa thực hiện trên phương pháp từ nghiên cứu văn học, xã hội, lịch sử, cộng đồng, nhân học văn hóa.
Bằng cách triển khai xuyên qua ranh giới giữa các lĩnh vực, nghiên cứu văn hóa giải thích những câu hỏi và vấn đề mới của thế giới ngày nay. Thay vì đi tìm kiếm những câu trả lời cố định, nghiên cứu văn hóa phát triển những công cụ mềm dẻo có thể thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của thế giới. Trong nửa cuối của thế kỷ XX, xuất hiện những phương pháp tiếp cận nghiên cứu văn hóa đã thu hút sự chú ý ngày càng tăng của giới nghiên cứu. Ở một mức độ lớn và nằm ngoài xu hướng chính trong khoa học xã hội, những cách tiếp cận này chủ yếu hướng đến ý nghĩa, biểu tượng, ngôn ngữ và diễn ngôn.
Chúng bắt nguồn từ những truyền thống triết học sâu sắc hơn, khác biệt và đáng kể bên ngoài truyền thống thực chứng của khoa học xã hội đương đại. Cách tiếp cận đầu tiên là hiện tượng học, sau đó là nhân học văn hóa, chủ nghĩa cấu trúc và lý thuyết phê bình. Sau đây là một số hướng nghiên cứu văn hóa cơ bản: a, Peter L. Berger và hiện tượng học 14 Vào giữa thập niên 1960, Peter L Berger (1929 - 2017) trở thành một trong những nhà nghiên cứu quan trọng đưa ra cách tiếp cận hiên tượng học và một trong những nhà lý thuyết văn hóa có ảnh hưởng nhất.
Ông đã viết những công trình về xã hội học, hiện đại hóa, lý thiết xã hội học và chính sách xuất bản. Và bằng cách sử dụng và xem xét đáng kể quan điểm hiện tượng học, ông đã tạo ra một công cụ khái niệm cho phép xử lý xã hội học vi mô và các vấn đề vĩ mô (xây dựng văn hóa của các thể chế, hệ tư tưởng và thay đổi các chuẩn mực xã hội). Berger bắt đầu xuất bản từ năm 1958. Các tác phẩm có ảnh hưởng nhất của ông từ thời điểm xuất bản tác phẩm Cái nhìn tạm thời (1961).
Các tác phẩm được chấp nhận, sau đó chúng đã tạo ra sự chuyển dịch lớn trong quỹ đạo tôn giáo. Từ năm 1963 đến 1970, ông phát triển cái nhìn của mình về tính chất văn hóa và hiện thực xã hội. Trong các tác phẩm đó, ông diễn tả các thông số tri thức và tính chất của khoa học. Theo như hạt nhân của nghiên cứu, thế giới nơi con người sống (bên trong giới hạn của môi trường tự nhiên và sinh học của loài người) được tạo nên.
Nói cách khác, hiên thực được hiểu và trải nghiệm bởi loài người được đặt trong xã hội. Đến năm 1969, ông bắt đầu khám phá mối quan hệ lý thuyết giữa văn hóa, hiện đại hóa, sự phát triển của thế giới thứ ba và chính trị. b, Duy vật luận (Materialism) Đây là một quan niệm triết học và xã hội học, về căn bản, thuyết duy vật coi mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của sự tương tác vật chất.