phần mở đầu, kết luận, phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn của đề tài - Chƣơng 2: Hình ảnh cuộc sống với quá trình vận động từ “văn hoá làng đến văn minh đô thị” trong truyện ngắn của Đức Hậu - Chƣơng 3: Con ngƣời làng quê trong quá trình đô thị hoá – nỗi ám ảnh trong truyện ngắn của Đức Hậu 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm văn hóa, văn minh trong cái nhìn đối sánh 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một phạm trù quen thuộc, nhƣng để hiểu và ứng dụng thuật ngữ này vào công tác nghiên cứu thì cần phải có sự tìm hiểu nghiêm túc, thận trọng. Bởi đến nay, khái niệm “văn hóa” đã có nhiều định nghĩa với những ý nghĩa nội hàm khác nhau xuất hiện.
Trong thƣ tịch cổ Trung hoa có đề cập đến phạm trù văn hóa “Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” (Xem dáng vẻ con ngƣời, lấy đó mà giáo hóa). “văn” là vẻ đẹp, “hóa” tức làm biến đổi. Văn hóa tức là biến đổi theo cái đẹp. Văn hóa gắn với phạm trù giáo dục và mang chức năng điều chỉnh xã hội.B Taylor định nghĩa văn hóa gắn với yếu tố trình độ phát triển xã hội, ông cho rằng “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội” [40; tr.
Theo định nghĩa của tổ chức UNESCO, “văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin” (UNESCO, 2001). Trong cuốn Từ điển từ Hán Việt, Phan Văn Các cũng đã đƣa ra định nghĩa về văn hóa khá gần gũi với định nghĩa về văn hóa của tổ chức UNESCO “Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm phụ vụ nhu cầu của con người (như trình độ sản xuất khoa học, văn học – nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…” [2; tr. Nhìn chung, các định nghĩa trên đã tiếp cận văn hóa khá đầy đủ ở các khía cạnh: tính lịch sử, tính giá trị, tính nhân sinh… Tuy nhiên ở một phƣơng diện 9 nào đó, các nhà nghiên cứu mới chỉ nhìn nhận văn hóa nhƣ một phép cộng đơn thuần của những tri thức bộ phận mà chƣa đề cập đến tính hệ thống – một trong những đặc trƣng quan trọng của văn hóa. Bởi xét cho cùng: mọi hiện tƣợng, sự kiện của nền văn hóa đều có mối liên hệ mật thiết với nhau và mối quan hệ biện chứng với môi trƣờng tự nhiên, xã hội.
“Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một hiện tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội thực hiện chức năng tổ chức xã hội” [34; tr. Tiếp thu các cách hiểu, định nghĩa của các nhà nghiên cứu về văn hóa, đặt trong cái nhìn mang tính hệ thống, tác giả Trần Ngọc Thêm đƣa ra định nghĩa có tính bao quát về văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [34; tr. Chúng tôi đã vận dụng những định nghĩa trên (ở những khía cạnh phù hợp) để làm cơ sở lý luận trong quá trình thực hiện luận văn của mình. Khái niệm văn minh trong cái nhìn đối sánh với văn hóa Văn minh (civilisation) với nghĩa gốc chỉ đô thị, thành phố.
Văn minh là một khái niệm khá gần gũi với khái niệm văn hóa. Thậm chí, lâu nay nhiều học giả sử dụng nhƣ một từ đồng nghĩa. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách thấu đáo, nhà nghiên cứu Likhachov cho rằng văn minh và văn hóa có liên quan mật thiết đến nhau nhƣng không đồng nhất: “Văn hóa giàu tính nhân bản, nó hướng tới những giá trị muôn thuở; trong khi đó văn minh hướng đến sự hợp lý, sắp đặt cuộc sống sao cho tiên lợi” [34; tr. Đồng quan điểm với Likhachov, Trần Ngọc Thêm cho rằng “Văn minh (Văn = vẻ đẹp, minh = sáng) là khái niệm mang tính quốc tế, có nguồn gốc phương Tây đô thị và chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa chủ yếu về phương diện vật chất” [34; tr.
Giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng cũng khẳng định: “Văn minh là trình độ phát triển nhất định 10 của văn hóa về phương diện vật chất, đặc trưng của một khu vực rộng lớn, một thời đại hoặc cả nhân loại” [40; tr. Chúng tôi nhận thấy, từ những quan niệm, những nhận định trên, về bản chất, các nhà nghiên cứu văn hóa chỉ ra văn minh và văn hóa đƣợc phân biệt ở các phƣơng diện: Văn hóa và văn minh phân biệt nhau ở tính giá trị. Trong khi văn hóa mang tính bao trùm cả giá trị vật chất và tinh thần thì văn minh có khuynh hƣớng thiên về tính vật chất. Thứ hai, về tính lịch sử, trong khi văn hóa là sự tích hợp các giá trị vật chất, tinh thần có bề dày lịch sử, quá khứ đến hiện tại thì văn minh chỉ bao hàm những giá trị mang tính thời đại, là một lát cắt đồng đại, chỉ một trình độ phát triển của văn hóa ở một giai đoạn nhất định trong lịch sử.
Thứ ba là sự khác biệt mang tính phạm vi, văn hóa mang tính dân tộc còn văn minh mang tính quốc tế. Với cách hiểu này, chúng tôi sẽ có sự vận dụng hợp lý để lý giải một số vấn đề đƣợc đề cập trong luận văn. Đôi nét về quá trình vận động từ: Văn hóa làng xã đến văn minh đô thị ở Việt Nam 1. Văn hóa làng xã ở Việt Nam Làng là một mô hình tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự túc.
Mô hình tổ chức này xuất hiện khi công xã thị tộc tan rã và chuyển sang mô hình công xã nông thôn. Theo Trần Quốc Vƣợng “Làng được hình thành, tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lí cội nguồn và cùng chỗ” [40; tr. Các thành viên trong làng không chỉ gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống mà còn gắn bó bằng quan hệ sản xuất. Về mặt hành chính, làng là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến.
Làng cũng có thể đƣợc gọi là xã, hoặc một xã cũng có thể gồm nhiều làng. Trần Ngọc Thêm cho rằng, “Làng xã được tổ chức chặt chẽ; nó chính là môi trường sống, là tập thể cộng đồng chủ yếu của con người Việt Nam” [34; tr. Các nhà nghiên cứu văn hóa đã chỉ ra tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trƣng nổi bật nhất của mô hình văn hóa làng xã Việt Nam. Hai đặc trƣng này 11 tồn tại song song nhƣ hai mặt của một vấn đề.
Từ đó làm nảy sinh những yếu tố tích cực và cả yếu tố tiêu cực trong tính cách văn hóa con ngƣời Việt Nam. Do phát triển trên cơ sở nền nông nghiệp lúa nƣớc, phụ thuộc vào những biến thiên của môi trƣờng tự nhiên, các thành viên trong cộng đồng làng có xu hƣớng liên kết chặt chẽ với nhau để đối phó với thiên nhiên, cũng nhƣ để đối phó với môi trƣờng xã hội nhƣ nạn trộm cắp, cƣớp bóc, giặc giã. Điều này hình thành tính cộng đồng cao trong văn hóa làng xã Việt. Biểu tƣợng truyền thống của tính cộng đồng trong văn hóa làng xã là “sân đình - Bến nước - cây đa, quán nước” – là những không gian sinh hoạt chung của cƣ dân sinh sống trong làng.
Làng nào cũng có Đình thờ Thành hoàng làng. Đình là là trung tâm hành chính, trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trung tâm về mặt tâm linh, tôn giáo. Cộng đồng làng xã quan niệm hƣớng Đình, thế đất quyết định vận mệnh của cả làng. Có thể nói, Đình là có một ý nghĩa vô cũng quan trọng trong văn hóa làng xã.
Sau này, khi Nho giáo ngày càng thâm nhập sâu rộng, “Đình làng” trở thành độc quyền của nam giới, của các giáp, của quan viên hàng xã còn “Bến nước - cây đa, quán nước – giếng làng” trở thành không gian sinh hoạt cộng đồng của đông đảo dân cƣ trong làng. Tính cộng đồng trong văn hóa làng xã là mầm mống của nếp sống dân chủ, đề cao tinh thần tập thể, bình đẳng, đoàn kết, tƣơng thân tƣơng ái “Bầu ơi thương lấy bí cùng; Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” (Ca dao). Tuy nhiên tính dân chủ, bình đẳng của văn hóa làng cũng kéo theo mặt trái của nó, đó là thói dựa dẫm, ỷ lại “Lắm sãi không ai đóng cửa chùa” (Tục ngữ), và thói đố kỵ, cào bằng “Xấu đều hơn tốt lỏi” (Tục ngữ). Lối tƣ duy nông nghiệp chủ quan này dẫn đến khái niệm “giá trị” trở nên tƣơng đối.
Điều này góp phần làm nên những hạn chế, thủ tiêu sự phát triển của yếu tố cá nhân, một phần sẽ kéo trùng sự phát triển xã hội. Tính cộng đồng cao của tổ chức nông thôn theo mô hình làng xã “tạo nên những tập thể làng xã khép kín mang tính tự trị: Các làng tồn tại khá biệt lập 12 với nhau và độc lập với triều đình phong kiến. Tính tự trị khẳng định sự độc lập của làng xã, ít liên hệ với bên ngoài; làng nào biết làng ấy, mỗi làng là một vương quốc khép kín” [34; tr. Bởi vậy dân gian vẫn lƣu truyền “Phép vua thua lệ làng”, “Ta về ta tắm ao ta; Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn” (Ca dao) … là nói về tính tự trị cao của văn hóa làng xã Việt Nam.
Chính vì vậy, làng tuy mộc mạc nhƣng lại có sức trƣờng tồn mãnh liệt, kẻ địch mạnh có thể chiếm đƣợc nƣớc, chứ không bao giờ chiếm đƣợc làng, đặc biệt là “hồn cốt” của làng xã Việt. Bởi làng Việt đã sớm hình thành yếu tố văn hóa làng ăn sâu vào tiềm thức cộng đồng dân cƣ. Nếu nhƣ “Cây đa - bến nước - sân đình” là biểu tƣợng của văn hóa cộng đồng làng xã, thì “lũy tre” lại là biểu tƣợng điển hình của tính tự trị. Tính tự trị của văn hóa làng tạo nên lối sống tự lập, cần cù, bền bỉ, tính tự cung tự cấp, duy trì sự ổn định của cộng đồng làng xã.
Tuy nhiên, mặt khác tính tự trị lại làm nảy sinh thói ích kỷ, óc bè phái, địa phƣơng, cục bộ.