Chương 1 CUỘC ĐỜI, QUAN NIỆM SÁNG TÁC, SỰ NGHIỆP CỦA NAM CAO VÀ O’HENRY 1. Thời đại và cuộc đời hai nhà văn Nam Cao, O’Henry 1. Thời đại và cuộc đời nhà văn Nam Cao Lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu và nửa đầu thế kỉ XX là thời kì nhân dân Việt Nam chịu sự thống trị của thực dân Pháp. Năm 1958, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta đã tiến hành đấu tranh quyết liệt chống lại quân thù. Mặc dù vậy, giai cấp phong kiến Việt Nam đã dần thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp nên các cuộc đấu tranh nổ ra của nhân dân đều bị thất bại. Với việc kí kết hiệp ước Harmand (1883-1884), triều đình nhà Nguyễn chính thức công nhận sự đô hộ của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Sang đầu thế kỷ XX khi bình định thành công nước ta, thực dân Pháp nhanh chóng bắt tay ngay vào công cuộc khai thác thuộc địa.
Về chính trị: Thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông Dương dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp khủng bố mọi sự chống đối, dùng chính sách “chia để trị” chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ thống trị khác nhau. Chúng duy trì triều đình phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp địa chủ làm công cụ tay sai để áp bức về chính trị và bóc lột về kinh tế. Nhân dân ta mất nước, trở thành nô lệ, bị đàn áp bóc lột, cuộc sống vô cùng cực khổ. Về kinh tế: Thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất (1897-1918), khai thác thuộc địa lần hai (1919-1929), trong đó lấy Việt Nam làm trọng điểm.
Tư bản Pháp bỏ vồn nhiều nhất vào nông nghiệp (lập đồn cao su, cà phê, chè…) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sắt, thiếc, vàng…) để thu lợi nhuận nhiều và nhanh. Pháp xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, phát triển cơ sở công nghiệp chế biến, độc quyền ngoại thương, Ngân hàng Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính đặt ra hàng trăm thứ thuế tàn ác nhất là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c thuế thân, thi hành rộng rãi chính sách cho vay nặng lãi. Kết quả nền kinh tế nước ta có sự phát triển mức độ nào đó theo hướng tư bản chủ nghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, phụ thuộc vào Pháp. Cùng với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa nước ta trong giai đoạn này cũng có những biến đổi sâu sắc.
Đó là xung đột giữa cái “cũ” và cái “mới”. Pháp thực hiện chính sách nô dịch văn hóa, xóa bỏ hệ thống giáo dục phong kiến thay bằng chế độ giáo dục thực dân hạn chế. Chúng mở nhà tù, trại giam nhiều hơn trường học, khuyến khích các hoạt động mê tín, các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, hạn chế in sách báo, gây tâm lý tự ti dân tộc. Kết quả hơn 90% dân ta bị mù chữ, bị bưng bít mọi thông tin tiến bộ từ bên ngoài.
Xã hội Việt Nam có những thay đổi rõ nét từ xã hội phong kiến thành xã hội nửa phong kiến. Lúc này trong xã hội Việt Nam nổi lên 2 mẫu thuẫn cơ bản đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp còn gọi là mâu thuẫn dân tộc. Mẫu thuẫn thứ hai là mối mâu thuẫn của nhân dân Việt Nam, mà chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến còn gọi là mâu thuẫn giai cấp. Hai mâu thuẫn này tồn tại song song và đặt ra yêu cầu phải giải quyết lúc bấy giờ.
Giữa một thời kì xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến tối tăm và ngột ngạt ấy, Nam Cao đã ra đời. Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1917 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân) tỉnh Hà Nam. Làng Đại Hoàng nơi ông sống thời bấy giờ giống như một bức tranh thu nhỏ của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là một ngôi làng xa phủ, xa huyện, chính vì vậy quan lại, cường hào trong làng có cơ hội hoành hành.
Tại ngôi làng của ông, thường xảy ra các vụ kiện tụng nhau giữa bọn quyền thế, giàu có vì vậy không ít người dân phải li hương. Những sự việc có thực đã diễn ra ở vùng quê tối tăm này đều được Nam Cao ghi lại trong những trang sách của mình với dấu ấn nặng nề… Ông sống trọn nửa đầu thế kỉ XX. Cuộc đời ông gắn với một giai đoạn lịch sử đau thương của dân tộc. Những biến động xã hội, văn hóa và thân phận con người trong thời kỳ này được ông cảm nhận, phản ánh hết sức sinh động trong toàn bộ sáng tác của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Nam Cao sinh trưởng trong một gia đình nghèo, đời sống gặp rất nhiều khó khăn. Trong gia đình, chỉ có Nam Cao được đi học. Cái đói, cái nghèo, bệnh tật đeo đuổi và giày vò ông ngay từ khi còn nhỏ. Sau khi thi trượt Thành chung, Nam Cao rời bỏ làng quê nghèo khổ vào Sài Gòn kiếm sống theo một người cậu làm may.
Rời quê, Nam Cao ấp ủ nhiều dự định, nhiều mơ ước. Ông mơ ước được sang Pháp để mở rộng tầm biểu biết, nhưng cuối cùng bệnh tật lại trả ông về với quê hương. Về Sài Gòn, Nam Cao tiếp tục ôn lại và thi đậu Thành chung. Ông định xin làm công chức nhưng rồi bệnh tật nên không được chấp nhận.
Nam Cao lên Hà Nội dạy học ở một trường tư thục do người nhà mở. Cuộc sống của một anh giáo khổ trường tư đã giúp Nam Cao hiểu sâu sắc hơn về thân phận của những người trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ. Khi phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, ngôi trường bị đóng cửa. Nam Cao phải sống chật vật bằng nghề viết văn, dạy thuê và cuối cùng không tồn tại ở chốn thị thành này được Nam Cao phải về quê “ăn bám” vợ.
Năm 1943 Nam Cao ra nhập nhóm Văn hóa cứu quốc cùng một số nhà văn khác như: Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyên Hồng… Khi cơ sở văn hoá cứu quốc và phong trào cách mạng ở Hà Nội bị khủng bố mạnh, Nam Cao trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương. Năm 1945, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân sau đó được làm chủ tịch ủy ban khởi nghĩa xã. Ít lâu sau Nam Cao được điều lên Hà Nội rồi công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nam Cao theo đoàn quân tiến vào vùng Nam Trung Bộ.
Năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc tham gia công tác kháng chiến đồng thời làm cán bộ thông tin tuyên truyền: viết tin, viết tài liệu, viết truyền đơn… Thời gian này, Nam Cao vinh dự ra nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (1948). Vào tháng 11 năm 1951, khi tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp ở vùng địch hậu Liên khu III. Nam Cao có ý định nhân dịp này ghé về quê mình, thu thập thêm tài liệu để viết về một tác phẩm về quê hương trong cách mạng. Nhưng không may Nam Cao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c đã ngã xuống gần bốt Hoàng Đan (Ninh Bình) khi tài năng đương độ chín và biết bao dự định sáng tạo vẫn còn dang dở.
Cuộc đời của nhà văn Nam Cao mang nhiều nét tiêu biểu cho tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ. Có hoài bão, có ước mơ, có lý tưởng nhưng đều không thực hiện được. Cuộc sống của ông phải vật lộn với miếng cơm, manh áo, trải qua nhiều lần thất nghiệp, ngược xuôi trong Nam, ngoài Bắc, nhưng cuộc đời của Nam Cao đã sớm được soi sáng nhờ ánh sáng của Đảng và Cách mạng. Chính điều này đã giúp ông thoát khỏi những bế tắc, và mang đến cuộc sống có ý nghĩa cho ông.
Nói tới Nam Cao, chúng ta nhớ ngay đến một con người có tấm lòng sâu sắc, có ý thức gắn bó thủy chung với nhân dân, với những người nghèo khổ, trước hết đó là những người thân trong gia đình. Bề ngoài, Nam Cao có vẻ lạnh lùng ít nói, nhưng đời sống nội tâm vô cùng phong phú. Ông luôn nghiêm khắc đấu tranh với bản thân để thoát khỏi lối sống tầm thường nhỏ hẹp, vươn tới một cuộc sống cao đẹp. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông cũng giữ trọn tấm lòng đôn hậu, hiền hòa, chan chứa tình thương, đặc biệt có sự gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nông dân nghèo khổ, bị áp bức, khinh miệt trong xã hội cũ với xã hội đương thời.
Ông cho rằng: Không có tình thương thì không xứng đáng gọi là người. Ông không nỡ ăn bát cơm ngon dành cho riêng mình, Nam Cao muốn chia đều cho cả nhà, vì vậy viết về người nghèo, ngòi bút Nam Cao lúc nào cũng tràn đầy niềm xót thương, cảm thông. Ông luôn trăn trở, suy tư về bản thân và cuộc sống vì thế dù những chuyện rất thường ngày nhưng Nam Cao lại nêu lên được vấn đề xã hội lớn lao, nhiều bài học triết lý sâu sắc. Trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao mang nặng tâm sự u uất, bi phẫn của một trí thức.
Họ là những người có ý thức về sự sống mà không được sống cho ra người. Nam Cao là một nhà văn chân chính, có tấm lòng nhân hậu, chan chứa yêu thương, có đời sống tinh thần phong phú. Những tác phẩm ông sáng tác đều chứa tinh thần nhân đạo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Thời đại và cuộc đời nhà văn O’Henry Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thời kỳ nước Mỹ vừa trải qua nội chiến, tái thiết đất nước, kinh tế, xã hội Mỹ đã bước vào thời kỳ khá phát triển và ổn định. Tuy nhiên cũng chính từ đây đã nảy sinh ra những vấn đề xã hội của việc đô thị hóa và công nghiệp hóa. Sự phân cách giàu - nghèo trở nên trầm trọng. Số triệu phú Mỹ ngày càng nhiều cùng với tình trạng khốn khó của người lao động tăng nhanh.
Sự thành đạt, giàu sang song hành với đói khổ nghèo nàn trong xã hội. Đời sống xã hội Mỹ vì thế cực kỳ phức tạp với bao điều tương phản: phồn vinh và cùng khổ, tự do dân chủ và bất công bạo ngược. Tình hình tư tưởng xã hội ở Mỹ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX khá phức tạp.