CHƯƠNG I MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm trường nghĩa Trong bộ môn từ vựng học trên thế giới, lý thuyết về trường nghĩa là một trong những vấn đề sớm được quan tâm, nghiên cứu. Từ những năm 20 của thế kỉ XX, các nhà ngôn ngữ học Châu Âu đã bắt đầu chú ý đến mối liên hệ về nghĩa trong các nhóm từ. Điển hình như W.
De Saussure đã đưa ra những nhận định đầu tiên hình thành nên lí thuyết về các trường từ vựng. Ông đã phát biểu rằng, trong ngôn ngữ, giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh quy định. Còn ở Việt Nam, từ những năm 1970, lí thuyết về trường từ vựng bắt đầu được du nhập và được các nhà Việt ngữ học dày công nghiên cứu. Bắt đầu từ Giáo trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu (1981), các nền tảng lí thuyết về trường từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã được xây dựng.
Ông cho rằng: “ý nghĩa của từ vừa là cái riêng cho từng từ, vừa là cái chung cho những từ cùng loại. Từ đó ông cho rằng tính hệ thống ngữ nghĩa trong từ vựng thể hiện qua những “tiểu hệ thống” ngữ nghĩa. Quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ chính là quan hệ qua những tiểu hệ thống mà chúng thuộc vào. Mỗi “tiểu hệ thống” đó chính là một trường nghĩa.
Tiếp sau Đỗ Hữu Châu, các nhà nghiên cứu Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Tồn, Bùi Minh Toán, Đỗ Việt Hùng, v. đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trường từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. Đỗ Việt Hùng định nghĩa về trường nghĩa trong sách Nhập môn ngôn ngữ học: “Các đơn vị từ vựng đồng nhất với nhau về nghĩa tập hợp thành trường nghĩa” (10, 227). Đến nay, đã có thêm nhiều luận văn, luận án chuyên ngành ngôn ngữ học nghiên cứu về những vấn đề cụ thể của trường nghĩa tiếng Việt, qua đó các công trình đã góp phần hoàn thiện hơn cái nhìn đa chiều về lí thuyết trường từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt.
9 Hiểu một cách đơn giản nhất, trường nghĩa là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa. Giữa các đơn vị từ vựng luôn tồn tại những mối quan hệ nhất định. Một trong những mối quan hệ đó là quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị từ vựng. Các từ ngữ đồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm được gọi là trường nghĩa (hay là trường từ vựng hoặc trường từ vựng - ngữ nghĩa).
Trong luận văn này, chúng tôi kế thừa quan niệm của Đỗ Hữu Châu về trường nghĩa, đó là: “Tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng. Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Phương pháp phân loại trường nghĩa Theo Đỗ Hữu Châu, có thể phân chia từ vựng thành hai trường từ vựng - ngữ nghĩa cơ bản là trường biểu vật và trường biểu niệm. Mỗi loại trường này có cách chi phối riêng hoạt động của từ trong giao tiếp.
Hai trường này không loại trừ nhau, và giữa chúng vẫn tồn tại mối liên hệ qua lại. Trường biểu vật gồm các từ đồng nhất ở nét nghĩa biểu vật như: người, động vật, đồ vật, v. Trường biểu niệm là tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm và cũng có thể chia tách ra các nhóm nhỏ hơn, theo một nguyên tắc nhất định. Nghĩa của từ vô cùng đa dạng và luôn luôn biến đổi, thậm chí có hiện tượng chuyển nghĩa của từ.
Vì vậy, muốn phân lập ra các tập hợp có chung nét đồng nhất về nghĩa thì cần phải xây dựng được các tiêu chí phân loại. Tiêu chí quan trọng hàng đầu là ý nghĩa ngôn ngữ. Từ những tập hợp khu vực ngữ nghĩa, cần tìm ra các trường hợp điển hình. Đó là “từ trung tâm”.
Nó mang các đặc trưng từ vựng - ngữ nghĩa được coi là cơ sở, có lực hút với các từ khác vào một trường. Để xác lập trường liên tưởng, cơ sở để tạo lập là các nghĩa ngữ dụng của “từ trung tâm”. “Từ trung tâm” khi cùng xuất hiện với một loạt từ nào đấy trong ngữ cảnh trùng lặp sẽ có hiện tượng 10 đẳng cấu ngữ nghĩa, khi đó tạo thành một trường nghĩa liên tưởng mà các từ có quan hệ với nhau nhờ những mối liên tưởng ngữ nghĩa nào đó. Để phân lập các trường nghĩa, cần phải xác định một hệ tiêu chí.
Dưới đây là hệ 5 tiêu chí xác lập trường từ vựng ngữ nghĩa: 1. Phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng- ngữ nghĩa là để phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa. Tiêu chí phân lập trường từ vựng phải là tiêu chí ngôn ngữ học 3. Không có ranh giới dứt khoát giữa các trường.
Một từ có thể cùng lúc thuộc nhiều trường từ vựng. Phân biệt trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm 5. Tiêu chí để xác lập một trường nghĩa biểu vật hay biểu niệm chỉ là sự đồng nhất trên một nét nghĩa 1. Các loại trường nghĩa Trong mỗi trường nghĩa, các từ ngữ được phân bổ thành các từ ngữ trung tâm (hướng tâm) và các từ ngữ ngoại vi (hướng biên).
Các từ ngữ trung tâm của trường nghĩa là các từ ngữ biểu thị các sự vật, hoạt động, tính chất, quan hệ v. đặc trưng cho trường nghĩa đó. Các từ ngữ ngoại vi là các từ ngữ biểu thị những sự vật, hoạt động, tính chất, quan hệ v. không chỉ thuộc về trường nghĩa đó mà còn có thể thuộc về trường nghĩa (những trường nghĩa) khác.
Có thể hình dung các từ ngữ trung tâm và ngoại vi trong trường nghĩa như sau: Quan hệ trên được hiểu như sau: Các từ ngữ a là các từ ngữ trung tâm của trường nghĩa A. Các từ ngữ b là các từ ngữ trung tâm của trường nghĩa B. 11 Các từ ngữ ab là các từ ngữ ngoại vi của trường nghĩa A và trường nghĩa B. Quan hệ trường nghĩa giữa các từ ngữ chi phối hoạt động kết hợp với nhau trong giao tiếp.
Tựu chung, có ba trường hợp kết hợp như sau: Thứ nhất, kết hợp với các từ ngữ trung tâm Aa hoặc Bb. Thứ hai, kết hợp với các từ ngữ ngoại vi Aab hoặc Bab. Thứ ba, kết hợp với các từ ngữ trung tâm của trường nghĩa khác Ab hoặc Ba. Trường nghĩa dọc Theo Đỗ Hữu Châu, ý nghĩa của từ không phải là một khối không phân hóa mà là tập hợp của một số thành phần nhất định.
Tùy theo chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, có thể phân chia những thành phần ý nghĩa của từ. Ý nghĩa biểu vật tương ứng với chức năng biểu vật. Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm. Trường biểu vật Tập hợp những từ đồng nhất một số nét nghĩa trong ý nghĩa biểu vật làm thành trường nghĩa biểu vật.
Danh từ làm gốc cho trường biểu vật. Các danh từ được chọn làm từ gốc cho trường nghĩa phải có tính khái quát cao. Chẳng hạn, danh từ người là tiêu biểu cho các từ có liên quan đến con người: cơ thể con người, hoạt động của con người, tính cách của con người, đời sống của con người, vật dụng sinh hoạt, công cụ lao động, văn minh loài người, bệnh tật của loài người, v. Danh từ thực vật là tiêu biểu cho các từ có liên quan đến các loài thực vật: các họ, loài thực vật, các bộ phận, sinh trưởng, môi trường sống, v.
Các danh từ tiêu biểu cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế nét nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp nét nghĩa của từ. Chẳng hạn, trường biểu vật về hoạt động của người có thể chia thành các tiểu trường, gồm: 12 - Hoạt động trí tuệ: suy nghĩ, tư duy, ngẫm nghĩ, nghiền ngẫm, phân tích, phán đoán, tổng hợp, kết luận,. - Hoạt động của các giác quan để cảm giác: nghe, nhìn, trông, thấy, ngó, liếc, nếm, ngửi, sờ, chạm,. - Hoạt động của con người tác động đến các đối tượng: nói, kể, chửi, mắng, đánh, đập, đá,.
+ Hoạt động của tay: cầm, bẻ, giật, vẫy, nắm, xé, vò, lôi, kéo, cắt, chặt,. + Hoạt động của chân: chạy, nhảy, đá, sút, ngoắc, khoèo, giẫm, nhún, bước, dậm, đạp,. + Hoạt động của đầu: húc, đội, đánh đầu,lắc, gật, ngọ nguậy,. Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật nên một từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau, các trường đó có thể giao thoa nhau khi một số từ của trường này cùng nằm trong trường kia.
Vì vậy, trường nghĩa biểu vật khác nhau về số lượng, cách thức tổ chức các đơn vị, miền phân bố ở từng ngôn ngữ. VD: Tiếng Việt có rất nhiều từ biểu thị các bộ phận khác nhau để gọi tên các sản phẩm khác nhau. Đặc biệt, có thể kể tới những sản phẩm được làm ra từ lúa như: Thóc, lúa, gạo, cơm, tấm, cám, trấu,. nhưng trong tiếng Anh chỉ có duy nhất một từ: rice.
Quan hệ của từ đối với một trường biểu vật không giống nhau. Có những từ thường gắn chặt với trường, chỉ có thể nằm trong một trường (chẳng hạn như từ “suy nghĩ” chỉ có thể nằm trong trường “người”), có những từ gắn bó lỏng lẻo hơn (các từ chỉ đặc điểm bộ phận cơ thể của trường “người” như: đầu, tai, mắt, mũi, miệng, chân, tay. đều có thể dùng cho trường “động vật”). Trong trường nghĩa biểu vật có thể có nhiều từ loại.
Ví dụ, trong cùng một trường nghĩa chỉ các phương tiện giao thông, ngoài các danh từ chỉ tên gọi phương tiện giao thông như: xe, tàu, tàu điện, tàu thủy, máy bay, xe đạp, ô 13 tô, xe máy, … còn có tính từ như: nhanh, chậm, nặng, sớm, muộn, trễ, đúng giờ, xa, gần, …; các động từ như: chạy, vượt, tiến, lùi, dừng, đỗ, … 1. Trường biểu niệm Để có thể chia tách các trường nghĩa biểu niệm, người ta dựa vào các ý nghĩa biểu niệm của từ. Những từ có chung một cấu trúc biểu niệm tập hợp lại thành một trường nghĩa. Một trường nghĩa biểu niệm lớn có thể còn phân tách nhiều bậc thành những trường nhỏ hơn, với quy mô khác nhau.
Một từ có thể mang nhiều nghĩa biểu niệm. Cũng vì thế mà một từ có thể đồng thời ở trong những trường biểu niệm khác nhau, hoặc nằm đồng thời trong trường biểu niệm lớn và trường phụ thuộc. Các trường nghĩa biểu niệm vì thế mà có sự giao thoa. Không có biên giới rạch ròi, tách biệt một cách chính xác giữa các trường nghĩa.