Luận văn tối ưu hóa công suất phản kháng TBA 110kV Bến Tre - Trần Quốc Tuấn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tối ưu hóa công suất phản kháng nhằm vận hành kinh tế lưới điện phân phối thuộc trạm biến áp 110kV Bến Tre.

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Kỹ thuật điện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tối ưu hóa công suất phản kháng lưới điện 110kV Bến Tre

Tối ưu hóa công suất phản kháng (Q) là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả vận hành kinh tế cho lưới điện phân phối, đặc biệt tại trạm biến áp 110kV Bến Tre. Công suất phản kháng không sinh ra công hữu ích nhưng lại chiếm dung lượng trên hệ thống, gây tăng tổn thất điện năng và giảm khả năng truyền tải. Việc quản lý Q không hiệu quả dẫn đến hệ số công suất cosφ thấp, tăng chi phí vận hành và giảm tuổi thọ thiết bị. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng lắp đặt tụ bù tại địa phương, từ đó đề xuất phương án tối ưu dung lượng và vị trí lắp đặt. Kết quả sẽ góp phần giảm tổn thất, nâng cao chất lượng điện năng và hiệu quả kinh tế cho ngành điện.

1.1. Vai trò của công suất phản kháng trong vận hành lưới điện

Công suất phản kháng (Q) là thành phần không thể thiếu trong hệ thống điện, xuất hiện khi dòng điện lệch pha so với điện áp do tính cảm kháng của phụ tải. Q không đóng góp vào công suất hữu ích nhưng cần thiết cho hoạt động của động cơ, biến áp và các thiết bị điện. Khi Q quá cao, hệ số cosφ giảm, dẫn đến tăng dòng điện chạy trên đường dây, gây tổn thất nhiệt (I²R) và sụt áp. Tại trạm 110kV Bến Tre, tình trạng thiếu hụt Q vào giờ cao điểm gây quá tải hệ thống, trong khi dư thừa Q vào giờ thấp điểm lãng phí nguồn lực. Bù Q hợp lý giúp cân bằng hệ thống, giảm chi phí mua điện từ nguồn và nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.

1.2. Thách thức vận hành kinh tế lưới điện phân phối

Lưới điện phân phối tại Bến Tre đối mặt nhiều thách thức như phụ tải không đồng đều, hệ thống tụ bù phân tán và thiếu cơ chế quản lý Q hiệu quả. Việc lắp đặt tụ bù theo cảm tính hoặc dung lượng cố định dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí gây quá bù làm tăng tổn thất. Ngoài ra, chi phí đầu tư ban đầu cao và thời gian thu hồi vốn dài là rào cản quan trọng. Sự chênh lệch phụ tải giữa giờ cao điểm (thiếu Q) và giờ thấp điểm (dư Q) càng làm phức tạp bài toán tối ưu. Nghiên cứu này nhằm giải quyết những hạn chế này thông qua phân tích dữ liệu thực tế và mô phỏng bằng phần mềm chuyên dụng.

II. Phân tích thực trạng công tác bù công suất phản kháng tại Bến Tre

Công tác bù Q tại Bến Tre được triển khai chủ yếu thông qua lắp đặt tụ bù tĩnh và động tại các trạm biến áp. Tuy nhiên, dung lượng bù hiện tại chưa được tính toán tối ưu, dẫn đến hệ số cosφ dao động từ 0,95 đến 1, chưa đạt tiêu chuẩn vận hành kinh tế (cosφ ≥ 0,98). Số liệu thống kê cho thấy 35 cụm tụ bù trung áp với tổng dung lượng 22.200 kVAR, nhưng phân bố không đều, tập trung ở khu vực đông dân cư. Phân tích tổn thất điện năng bằng phần mềm PSS/ADEPT chỉ ra rằng 68% tổn thất xảy ra trên đường dây hạ áp do dòng Q không được kiểm soát. Đặc biệt, vào giờ cao điểm (18h-22h), hệ thống thiếu hụt 15-20% Q so với nhu cầu, gây sụt áp cục bộ. Nghiên cứu cũng phát hiện tình trạng tụ bù hoạt động không ổn định do quá tải hoặc thiếu bảo dưỡng, dẫn đến tuổi thọ giảm 30% so với kỳ vọng.

2.1. Đánh giá dung lượng tụ bù hiện hữu

Dung lượng tụ bù hiện tại tại trạm 110kV Bến Tre được xác định dựa trên công suất đặt của phụ tải, nhưng không xem xét đầy đủ các yếu tố như biến động phụ tải theo mùa hay sự phát triển kinh tế địa phương. Ví dụ, dung lượng 22.200 kVAR cho 35 cụm tụ bù trung áp chưa phân bố theo mật độ phụ tải, dẫn đến khu vực nông thôn thiếu hụt Q nghiêm trọng. Phân tích chi phí đầu tư ban đầu khoảng 5 tỷ đồng/năm, nhưng hiệu quả giảm tổn thất chỉ đạt 12-15%, thấp hơn mức kỳ vọng 20%. Ngoài ra, việc không đồng bộ hóa dung lượng bù giữa các cấp điện áp (trung áp 22kV và hạ áp 0,4kV) gây mất cân bằng hệ thống, đặc biệt vào giờ thấp điểm khi Q dư thừa gây quá điện áp.

2.2. Hiệu quả kinh tế của phương pháp bù truyền thống

Phương pháp bù truyền thống tại Bến Tre chủ yếu sử dụng tụ bù tĩnh, dung lượng cố định, không đáp ứng được nhu cầu biến động theo thời gian. Chi phí vận hành bao gồm tiền mua điện do tổn thất, bảo dưỡng thiết bị và thay thế tụ bù hỏng chiếm 8-10% tổng chi phí lưới điện. Mặc dù đã đạt hệ số cosφ trung bình 0,96, nhưng vẫn chưa tối ưu do tổn thất điện năng vẫn ở mức 7-9% sản lượng điện. Thời gian thu hồi vốn đầu tư tụ bù ước tính 5-7 năm, cao hơn mức tiêu chuẩn 3-4 năm do hiệu quả giảm tổn thất thấp. Đặc biệt, chi phí mua điện từ nguồn do Q không đủ vào giờ cao điểm lên tới 1,2 tỷ đồng/năm, gây áp lực lên ngân sách ngành điện.

III. Phương pháp tối ưu hóa dung lượng và vị trí lắp đặt tụ bù

Để nâng cao hiệu quả vận hành kinh tế, nghiên cứu đề xuất phương pháp tối ưu dung lượng và vị trí lắp đặt tụ bù dựa trên phân tích dữ liệu phụ tải và mô phỏng hệ thống. Phương pháp kết hợp thuật toán di truyền (GA) với phần mềm PSS/ADEPT nhằm xác định dung lượng bù tối ưu tại từng vị trí, giảm thiểu tổn thất điện năng. Dữ liệu phụ tải được thu thập trong 12 tháng, bao gồm giờ cao điểm, thấp điểm và biến động theo mùa. Kết quả mô phỏng cho thấy dung lượng bù nên phân bố theo mật độ phụ tải, ưu tiên lắp đặt tại các nút có dòng Q lớn nhất. Phương pháp này giúp giảm tổn thất điện năng xuống còn 4-5%, nâng hệ số cosφ lên 0,99. Thời gian thu hồi vốn giảm xuống còn 2,5-3 năm nhờ hiệu quả kinh tế rõ rệt.

3.1. Thuật toán tối ưu dung lượng bù bằng phương pháp di truyền

Thuật toán di truyền (GA) được áp dụng để tìm dung lượng bù tối ưu cho từng vị trí trong lưới điện. GA mô phỏng quá trình tiến hóa tự nhiên, trong đó mỗi cá thể đại diện cho một giải pháp dung lượng bù. Quá trình bao gồm chọn lọc, lai ghép và đột biến để tiến hóa dần đến giải pháp tối ưu. Các thông số đầu vào bao gồm dữ liệu phụ tải, tổn thất đường dây, chi phí đầu tư và ràng buộc kỹ thuật (hệ số cosφ ≥ 0,98). Kết quả mô phỏng trên lưới điện Bến Tre cho thấy dung lượng bù tối ưu dao động từ 500-2.000 kVAR tùy theo vị trí, giảm 30% so với phương pháp truyền thống. Phương pháp này cũng cho phép điều chỉnh dung lượng theo thời gian, phù hợp với biến động phụ tải.

3.2. Xác định vị trí lắp đặt tụ bù tối ưu

Vị trí lắp đặt tụ bù được xác định dựa trên phân tích dòng Q và tổn thất điện năng tại từng nút trong lưới điện. Phương pháp sử dụng chỉ số tổn thất (Loss Reduction Index - LRI) để đánh giá mức độ ảnh hưởng của tụ bù đến giảm tổn thất. Kết quả phân tích cho thấy vị trí tối ưu thường nằm tại các nút có dòng Q lớn nhất hoặc gần nguồn phát. Tại trạm 110kV Bến Tre, vị trí lắp đặt tụ bù được đề xuất tại 12 nút trọng điểm, bao gồm các trạm biến áp công cộng và chuyên dùng. Việc lắp đặt tại những vị trí này giúp giảm 40% tổn thất trên đường dây hạ áp, nâng cao độ ổn định điện áp. Ngoài ra, phương pháp này cũng xem xét yếu tố chi phí đầu tư, ưu tiên các vị trí dễ tiếp cận và có hạ tầng sẵn sàng.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng cho lưới điện Bến Tre

Nghiên cứu đã chứng minh rằng tối ưu hóa dung lượng và vị trí lắp đặt tụ bù là giải pháp hiệu quả nhằm vận hành kinh tế lưới điện phân phối tại trạm 110kV Bến Tre. Phương pháp đề xuất kết hợp thuật toán di truyền và phần mềm PSS/ADEPT giúp giảm tổn thất điện năng từ 7-9% xuống còn 4-5%, nâng hệ số cosφ lên 0,99. Thời gian thu hồi vốn đầu tư tụ bù giảm xuống còn 2,5-3 năm, thấp hơn đáng kể so với phương pháp truyền thống. Kết quả cũng chỉ ra rằng dung lượng bù nên phân bố theo mật độ phụ tải, ưu tiên lắp đặt tại các nút trọng điểm. Áp dụng giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng điện năng, giảm chi phí vận hành và tăng tuổi thọ thiết bị. Đề xuất triển khai thí điểm tại 3 trạm biến áp trọng điểm trong năm 2024 để đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.

4.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế sau tối ưu

Sau khi áp dụng phương pháp tối ưu, chi phí mua điện do tổn thất giảm từ 1,2 tỷ đồng/năm xuống còn 0,5 tỷ đồng/năm. Hiệu quả kinh tế rõ rệt nhờ giảm tổn thất điện năng và nâng cao hệ số cosφ. Thời gian thu hồi vốn đầu tư tụ bù ước tính 2,5 năm, thấp hơn mức tiêu chuẩn 3 năm nhờ hiệu quả giảm tổn thất cao. Ngoài ra, tuổi thọ thiết bị tăng lên 20-30% do vận hành trong điều kiện ổn định hơn. Đánh giá chi phí-lợi ích cho thấy tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) đạt 22%, vượt trội so với mức 15% của phương pháp truyền thống. Giải pháp cũng góp phần giảm phát thải CO₂ nhờ tiết kiệm điện năng.

4.2. Hướng triển khai và nhân rộng mô hình

Để triển khai hiệu quả, ngành điện Bến Tre cần xây dựng kế hoạch đầu tư cụ thể cho giai đoạn 2024-2026, bao gồm lắp đặt 12 cụm tụ bù tại các vị trí trọng điểm. Các bước triển khai gồm khảo sát hiện trạng, mô phỏng hệ thống, lựa chọn thiết bị và đào tạo nhân lực vận hành. Đề xuất ưu tiên lắp đặt tụ bù động tại các trạm biến áp có biến động phụ tải lớn để đáp ứng nhu cầu theo thời gian. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế khuyến khích người dân và doanh nghiệp lắp đặt tụ bù tại hạ áp nhằm giảm tổn thất trên toàn hệ thống. Nhân rộng mô hình này sang các tỉnh thành khác có điều kiện tương tự sẽ góp phần nâng cao hiệu quả vận hành lưới điện toàn quốc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Luận văn thạc sĩ tối ưu hóa công suất phản kháng để vận hành kinh tế lưới điện phân phối thuộc trạm biến áp 110kv bến tre

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Lý do chọn đề tài Tại Việt Nam sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hiện đang là chương trình mục tiêu của quốc gia về tiết kiệm năng lượng và Luật sử dụng năng lương tiết kiệm và hiệu quả được ban hành áp dụng kể từ ngày 01/01/2011. Chính phủ kêu gọi các ngành, các cấp cùng mọi người dân tích cực tham gia thực hiện cụ thể là, trong những năm qua, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo đầu tư phát triển nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời … nhằm đảm bảo cung cấp điện an toàn liên tục cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho nhân dân. Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không những giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho khách hàng sử dụng điện mà đối với ngành điện hiện nay, giảm giá thành, giảm chi phí đầu tư cho các công trình cung cấp điện, đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày một tăng cao của đất nước, đồng thời giảm phát thải, bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên của đất nước, thực hiện phát triển kinh tế xã hội bền vững. Song song với sự phát triển kinh tế chính trị xã hội của một quốc gia, ngành điện phải phát triển đi trước một bước mới kéo theo sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, sự biến động của ngành điện có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của quốc gia.

Hiện nay, lưới điện phân phối 22/0.4 kV được rãi đều trên diện rộng ở tất cả các tỉnh thành, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến hải đảo. Do đó việc truyền tải năng lượng trên đường dây đến các hộ tiêu thụ làm sao phải đảm chất lượng điện năng, giảm thất thoát sản lượng điện năng trên đường dây là điều quan tâm nhất đối với ngành điện hiện nay. Trong khi đó hiện nay thì nhu cầu phát triển phụ tải của khách hàng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng càng cao, đòi hỏi ngành điện phải đáp HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 5 Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên ứng theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước đặc biệt là các khu vực phát triển kinh tế của tỉnh, huyện … Để giải quyết vấn đề trên, phía ngành điện cũng đưa ra rất nhiều giải pháp như tái cấu trúc lưới điện, xây dựng lưới điện compact, bọc hóa lưới điện, điều chỉnh điện áp, bù công suất phản kháng … góp phần ổn định lưới điện, vận hành kinh tế lưới điện sao cho hiệu quả nhất trong vấn đề cấp điện liên tục và ổn định.

Đặc thù phụ tải của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bến Tre nói riêng, phụ tải của hệ thống điện có các giờ cao điểm trong ngày từ 9h30’ đến 11h30’ và từ 17h00’ đến 20h00’ các ngày từ thứ 2 đến Thứ 7 hàng tuần, giờ thấp điểm từ 22h00’ đến 4h00’ và giờ bình thường là các giờ còn lại, ngày Chủ Nhật từ 4h00’ đến 22h00’ đêm, do đó Bộ công thương đã ban hành Thông số 16/2014/TT-BCT ngày 29/5/2014 được áp dụng giá bán điện cho các ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ với 3 biểu giá rõ rệt là giờ bình thường 13h, giờ cao điểm 5h và giờ thấp điểm 6h, chính vì giá điện chênh lệch lớn giữa giờ cao điểm và giờ thấp điểm nguyên do là phụ tải tại giờ cao điểm cũng chênh lệch rất lớn so với phụ tải giờ thấp điểm, do đó công suất phụ tải thường bị thiếu công suất phản kháng vào giờ cao điểm và thừa công suất phản kháng vào giờ thấp điểm. Xuất phát từ các lý do trên, Tổng Công ty Điện lực miền Nam (SPC) đã giao cho các Công ty Điện lực tính toán dung lượng bù và lắp đặt các thiết bị bù trên lưới điện 22/0.4 kV sao cho đúng trọng tâm phụ tải, giảm sản lượng điện năng thất thoát, đảm bảo chất lượng điện năng và vận hành kinh tế lưới điện một cách hiệu quả nhất trong đó có Công ty Điện lực Bến Tre. Chính vì vây ̣ đề tài“Tối ưu hóa công suất phản kháng để vận hành kinh tế lưới điện phân phối thuộc trạm biến áp 110 kV Bến Tre’’ được chọn để nghiên cứu, đây là đề tài được giới hạn tại tỉnh Bến Tre, tuy nhiên nếu thực hiện tốt công tác bù công suất phản kháng, vận hành kinh tế lưới điện, đảm bảo chất lượng điện năng, giảm sản lượng thất thoát điện năng theo chủ trương chung của ngành điện là góp phần rất lớn đối với HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 6 Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên sự phát triển của ngành điện, phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài - Đánh giá hiện trạng bù công suất phản kháng hiện hữu trên lưới điện phân phối của Bến Tre.

- Tìm hiểu các chế độ bù công suất phản kháng trên lưới điện. - Xây dựng tiêu chí bù vô công, tính toán công suất bù hợp lý và chạy chương trình PSS/ADEPT để chọn vị trí lắp đặt tối ưu.3 Giới hạn của đề tài Nghiên cứu và áp dụng bù công suất phản kháng cho lưới điện phân phối các phát tuyến thuộc trạm 110 kV Bến Tre.4 Phương pháp nghiên cứu - Tham khảo tài liệu - Phân tích, tổng hợp và đề xuất giải pháp bù hiệu quả - Chạy phần mềm PSS/ADEPT để chạy thử bài toán bù công suất phản kháng tối ưu trên lưới điện 1.5 Bố cục luận văn Các nội dung chính trong luận văn được phân thành 5 chương thứ tự cụ thể như sau: Lời mở đầu - Chương 1: Tổng quan về đề tài - Chương 2: Cơ sở lý thuyết bù công suất phản kháng - Chương 3: Đánh giá thực trạng công tác lắp đặt tụ bù trong Công ty Điện lực Bến Tre - Chương 4: Phân tích và tính toán dung lượng bù - Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 7 Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên 1.6 Hướng nghiên cứu và tài liệu tham khảo 1.1 Trong nước Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề tối ưu hóa công suất phản kháng trên lưới điện: 1. Giáo trình biên soạn tập huấn phần mềm phân tích và tính toán lưới điện PSS/ADEPT do PGS.TS Nguyễn Hữu Phúc Trường Đại học Bách Khoa TPHCM- Công ty Điện lực 2, 2007.

Nội dung hướng dẫn sử dụng phần mềm và phân tích dữ liệu lưới điện từ chương trình PSS/ADEPT. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phước Lộc về Tối ưu hóa vị trí thiết bị bù trong mạng phân phối do PGS.TS Quyền Huy Ánh hướng dẫn năm 2014. Nội dung luận văn chưa phân tích sâu về dung lượng và vị trí cần lắp đặt tụ bù cũng như việc tính toán lợi ích giảm tổn thất điện năng và thời gian thu hồi vốn. Nhận xét: Công trình nghiên cứu nêu trên chưa đề xuất và phân tích sâu về dung lượng và vị trí cần lắp đặt tụ bù tối ưu cho lưới điện.2 Ngoài nước Các nghiên cứu liên quan đến bài báo nước ngoài.Power Transfer Limit of Rural Distribution Feeder.

Nội dung của bài báo có liên quan đến Lắp thiết bị bù để duy trì điện áp và công suất khi truyền tải đi xa đến các vùng nông thôn, bài báo này cũng không có phân tích sâu về dung lượng và vị trí bù tối ưu để giảm tổn thất điện năng 2. Noor Fazilah Ayu Suhurani. Analysis of technical losses in distribution line. Bài báo này cũng có liên quan đến vấn đề giảm tổn thất điện năng trên lưới điện, có dùng phần mềm PSS/ADEPT để phân tích, có phân tích về tổn thất máy biến áp và tổn thất đường dây phân phối, vẫn chưa phân tích sâu về dung lượng và vị trí bù tối ưu để giảm tổn thất điện năng Nhận xét: Công trình nghiên cứu nêu trên có liên quan đến vấn đề tổn thất điện năng của lưới điện phân phối nhưng cũng chưa nêu bậc được cách chọn dung lượng và vị trí cần lắp đặt tụ bù tối ưu cho lưới điện.

HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 8 Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT BÙ CÔNG SUẤT PHẢN KHÁNG 2.1 Tổng quan bù công suất phản kháng trên lưới điện phân phối 2.1 Giới thiệu chung Trong quá trình vận hành truyền tải và sử dụng điện, đối với một số phụ tải ngoài công suất tác dụng P thì cần có công suất phản kháng Q, mặc dù không sinh ra công nhưng cần thiết để tạo ra từ trường, một yếu tố trung gian trong quá trình chuyển hóa điện năng. Sự truyền tải công suất phản kháng trên đường dây cũng như trong máy biến áp sẽ làm xấu đi các chỉ số kinh tế - kỹ thuật của lưới điện. Do đó vấn đề đặt ra là giảm sự truyền tải công suất phản kháng trên đường dây và các phẩn tử có dòng điện chạy qua càng nhiều càng tốt.

Để giảm truyền tải công suất phản kháng trong lưới điện, ta có thể đặt các thiết bị bù một chiều (dùng tụ điện tĩnh bù ngang) hoặc thiết bị bù hai chiều (máy bù tĩnh - SVC hay máy bù đồng bộ) nhằm cung cấp thêm công suất phản kháng cho lưới điện tại các vị trí gần phụ tải gọi là bù công suất phản kháng.2 Bù cố định và bù ứng động Bù cố định là bù chung cho mọi chế độ làm việc của phụ tải được tính toán sao cho thỏa mãn mọi chế độ vận hành, trong vận hành các thiết bị bù này không điều chỉnh thay đổi được. Bù điều chỉnh là khi lắp đặt tụ bù ta có thể điều chỉnh theo từng chế độ vận hành, nghĩa là các thiết bị bù có thể thay đổi khả năng làm việc theo yêu cầu của từng chế độ, trong vận hành các thiết bị này chúng ta có thể điều chỉnh công suất được. Bù cố định có suất đầu tư rất thấp, ít sự cố, nhưng chỉ tính toán công suất bù ở chế độ cực tiểu để tránh hiện tượng quá bù. Vì vậy không đáp ứng được công suất phản kháng ở các chế độ khác khi tải Max hoặc Min.

Bù điều chỉnh thì đáp ứng được nhu cầu công suất phản kháng ở mọi chế độ nhưng có suất đầu tư rất cao và dễ xảy ra sự cố HVTH: Trần Quốc Tuấn Page 9 Luận Văn Thạc sĩ GVHD: PGS. Lê Chí Kiên do số lần đóng cắt thường xuyên theo từng chế độ vận hành của lưới điện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ