Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Khái niệm Tội trộm cắp tài sản 1. Đặc điểm pháp lý của Tội trộm cắp tài sản Theo từ điển PLHS định nghĩa trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có ngƣời khác quản lý [22, 283]. Xét về phƣơng diện lý luận, tội “Trộm cắp tài sản” là một loại tội phạm có dấu hiệu hành vi khách quan khá đơn giản: “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” [40, 196].
Trong BLHS Việt Nam, Tội trộm cắp tài sản đƣợc quy định tại Điều 138, trong Chƣơng các tội xâm phạm sở hữu (Chƣơng XIV- BLHS) với khách thể trực tiếp của tội phạm là quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức và đôi khi cả quyền nhân thân (tính mạng, sức khoẻ của con ngƣời). Là tội phạm có bản chất là tội chiếm đoạt, tức là ngƣời có hành vi trộm cắp đã cố ý chuyển dịch bất hợp pháp tài sản (là đối tƣợng tội phạm) từ ngƣời có tài sản sang mình hoặc sang ngƣời mà mình quan tâm. Thủ đoạn của việc chiếm đoạt đó là hành vi lén lút. Ngoài những dấu hiệu pháp lý chung của tội phạm hình sự, Tội trộm cắp tài sản có một số đặc điểm/dấu hiệu pháp lý riêng, vừa để xác định bản chất pháp lý cơ bản của Tội trộm cắp tài sản, vừa để phân biệt giữa Tội trộm cắp tài sản với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác trong Chƣơng các tội xâm phạm sở hữu và các tội phạm trong các chƣơng khác của BLHS.
Những dấu hiệu đó sẽ đƣợc lần lƣợt phân tích sau đây: a) Hành vi chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản được thực hiện một cách “lén lút” Đặc điểm riêng biệt có tính đặc thù của tội "Trộm cắp tài sản" là hành vi “lén lút”, không có việc lén lút thì không phải là trộm cắp. Các nghiên cứu 9 đều coi “lén lút” là thủ đoạn chiếm đoạt của Tội trộm cắp tài sản và đã lén lút thì có nghĩa là bí mật, không công khai, Nếu một hành vi chiếm đoạt tài sản trƣớc sự chứng kiến của chủ sở hữu tài sản, ngƣời quản lý tài sản (sau này gọi tắt là chủ tài sản) thì không thể coi đó là hành vi trộm cắp, mà hành vi trộm cắp phải đƣợc thực hiện một cách lén lút, vụng trộm đối với chủ tài sản. Theo Từ điển Tiếng Việt tƣờng giải và liên tƣởng của Nhà xuất bản (NXB)Văn hóa thông tin năm 2004, trang 467 giải nghĩa từ “lén lút” là hành vi: cố giấu diếm, vụng trộm không để lộ ra do có ý gian. Trong tội "Trộm cắp tài sản", hành vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản có đầy đủ những dấu hiệu này, thiếu một trong những dấu hiệu đó sẽ không thể hiện đƣợc bản chất của sự "lén lút", bởi nếu làm một việc quang minh thì không bao giờ phải lén lút.
Nói cách khác, "lén lút" là hành vi của một ngƣời cố ý thực hiện một việc làm bất minh, vụng trộm, giấu diếm không để lộ cho ngƣời khác biết, nhằm mục đích chiếm đoạt trái phép tài sản của họ. Tuy nhiên, nếu tất cả các hành vi "lén lút" của tội "Trộm cắp tài sản" đều đƣợc thực hiện một cách giấu diếm, vụng trộm, thì việc nhận biết chúng sẽ dễ dàng hơn và việc định tội danh cũng sẽ đơn giản hơn. Nhƣng bởi thực tế, hành vi “lén lút” có nhiều cách thể hiện. Có những hành vi lén lút đƣợc thực hiện một cách giấu diếm, vụng trộm (trƣờng hợp che giấu toàn bộ sự việc phạm tội); nhƣng cũng có những hành vi lén lút lại đƣợc thực hiện một cách công khai, trắng trợn không có ý che đậy hay giấu diếm hành vi của ngƣời phạm tội (trƣờng hợp chỉ che giấu hành vi phạm tội đối với chủ tài sản).
Sự công khai ở đây có hai hình thức: Công khai sự vi phạm pháp luật của hành vi: là trƣờng hợp ngƣời phạm tội chỉ thực hiện việc “lén lút” với chủ tài sản, còn những ngƣời xung quanh, ngƣời phạm tội không cần giấu diếm hay che đậy hành vi vi phạm pháp luật của mình. 10 Công khai thực hiện hành vi, nhƣng bản chất chiếm đoạt của hành vi đã đƣợc che đậy: là trƣờng hợp ngƣời phạm tội công khai thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhƣng bản chất tội phạm của hành vi đã đƣợc che đậy, nguỵ trang bằng những thủ đoạn khác nhau. b) Đặc điểm về chủ sở hữu tài sản bị chiếm đoạt Chủ sở hữu tài sản mà tội phạm hƣớng tới để thực hiện hành vi “lén lút” chiếm đoạt cần làm rõ bao gồm: chủ sở hữu tài sản và ngƣời quản lý tài sản. i) Chủ sở hữu tài sản Theo pháp luật dân sự, chủ sở hữu tài sản là ngƣời có đầy đủ 3 quyền năng: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định của pháp luật.
Có đầy đủ 3 quyền này mới là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản và đƣợc pháp luật bảo vệ. Nhƣ vậy, với việc thực hiện 3 quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản, thì chủ sở hữu tài sản là đối tƣợng chủ yếu mà tội phạm hƣớng tới để thực hiện hành vi "lén lút". ii) Người quản lý tài sản Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng năm 2003, trang 800 thì “quản lý” đƣợc giải thích là: trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Từ định nghĩa này, liên hệ với pháp luật hình sự thì ngƣời quản lý tài sản là ngƣời đang nắm giữ hoặc trông coi, bảo vệ tài sản, nhƣng lại không phải là chủ sở hữu tài sản và không có quyền định đoạt tài sản.
Để làm rõ vai trò, ý nghĩa của ngƣời quản lý tài sản trong việc xác định đối tƣợng mà tội phạm hƣớng tới để thực hiện hành vi lén lút, ta có thể phân chia ngƣời quản lý tài sản theo những góc độ sau: * Xét về góc độ nắm giữ, kiểm soát tài sản: Có thể chia ngƣời quản lý tài sản thành 2 dạng: trực tiếp và gián tiếp: - Người quản lý tài sản trực tiếp: + Là những ngƣời đƣợc chủ sở hữu phân công quản lý tài sản, giao 11 tài sản cho để quản lý, cho mƣợn, cho thuê, hoặc có đƣợc do ký kết các hợp đồng giao dịch… và những tài sản này đang trong vòng kiểm soát trực tiếp của ngƣời đó. + Là trƣờng hợp ngƣời quản lý tài sản giao tài sản cho ngƣời thứ 3 để quản lý. + Là ngƣời sử dụng tài sản trong trƣờng hợp không phải do chủ sở hữu giao, hay nói cách khác là chƣa đƣợc sự đồng ý của chủ tài sản. - Người quản lý tài sản gián tiếp + Là ngƣời do tính chất công việc nên có trách nhiệm bảo vệ, trông coi, canh giữ tài sản nhƣng không trực tiếp nắm giữ tài sản.
+ Là trƣờng hợp ngƣời đƣợc giao nhiệm vụ quản lý những tài sản thuộc quyền sở hữu của các cơ quan, tổ chức Nhà nƣớc đƣợc để ở những nơi công cộng để phục vụ sinh hoạt đời sống, những công trình phúc lợi… * Xét về góc độ pháp lý: Có thể chia thành 2 trƣờng hợp: ngƣời quản lý tài sản hợp pháp và ngƣời quản lý tài sản bất hợp pháp. - Người quản lý tài sản hợp pháp + Là trƣờng hợp ngƣời đƣợc chủ sở hữu giao cho quản lý tài sản một cách hợp pháp; hoặc tuy không phải do chủ sở hữu giao cho nhƣng việc sử dụng, quản lý tài sản đƣợc coi là hợp pháp; ngƣời đƣợc ngƣời quản lý hợp pháp tài sản, giao tài sản cho để trông giữ; hoặc ngƣời phát hiện và thu giữ các tài sản vô chủ, tài sản bị bỏ quên, chôn giấu, chìm đắm… phù hợp với các điều kiện pháp luật quy định; hay các trƣờng hợp quản lý tài sản theo quyết định, mệnh lệnh của cơ quan Nhà nƣớc. - Người quản lý tài sản không hợp pháp + Xét về góc độ quyền sở hữu, thì đây là trƣờng hợp chiếm hữu bất hợp pháp trong quyền chiếm hữu tài sản, trong đó có cả chiếm hữu tài sản bất hợp pháp ngay tình và không ngay tình. Một số trƣờng hợp sau đây đƣợc coi là ngƣời quản lý tài sản không hợp pháp: 12 Ngƣời có đƣợc tài sản do phạm tội mà có; Ngƣời cố ý mua tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có; Ngƣời có đƣợc tài sản do hành vi gian dối, do vi phạm pháp luật nhƣng chƣa đến mức là tội phạm hình sự… * Về góc độ sự kiện: Ta có thể chia thành 2 trƣờng hợp: Ngƣời quản lý tài sản trong trƣờng hợp bình thƣờng và trong trƣờng hợp đặc biệt.
- Người quản lý tài sản trong trường hợp bình thường Là trƣờng hợp ngƣời đƣợc giao quyền quản lý tài sản đƣợc diễn ra một cách hợp pháp, thuần túy và có sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản. - Người quản lý tài sản trong trường hợp đặc biệt Đây là vấn đề khá phức tạp khi phân biệt đối tƣợng mà ngƣời phạm tội hƣớng tới để thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản. Xác định chính xác đối tƣợng này, ta có thể làm rõ việc ngƣời phạm tội có thực hiện hành vi lén lút hay không, từ đó cơ sở để định tội danh sẽ rõ dàng hơn, không bị lẫn lộn giữa tội "Trộm cắp tài sản" với các tội khác có cùng tình chất chiếm đoạt. c) Quyền kiểm soát của chủ tài sản tại thời điểm tài sản bị chiếm đoạt Trong tội trộm cắp tài sản, vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt, chủ tài sản không biết việc mất tài sản.
Đây là mốc thời gian quan trọng để phân biệt với những tội khác. Thể hiện nhƣ sau: Trƣớc khi mất tài sản, ngƣời quản lý tài sản vẫn đang kiểm soát đƣợc tài sản của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Ở đây, trực tiếp đƣợc hiểu là ngƣời chủ tài sản đang nắm giữ tài sản của mình bằng cách: cầm, nắm, giữ, nhìn thấy… Sau khi mất tài sản, chủ tài sản có thể biết ngay việc bị mất. Còn gián tiếp là trƣờng hợp chủ tài sản không trực tiếp nắm giữ, cầm, sờ, nhìn thấy nhƣng họ biết đƣợc cụ thể tài sản đó đang ở đâu (Ví dụ tài sản để ở nhà khi đi vắng), số lƣợng, vị trí, tình trạng của tài sản… (ví dụ trƣờng hợp Công ty Điện lực nắm đƣợc số lƣợng, vị trí 13 của các đồng hồ công tơ điện).
Trong trƣờng hợp này, thông thƣờng sau khi bị mất tài sản, chủ tài sản không biết ngay việc bị mất tài sản.