Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI SỬ DỤNG TRÁI PHÉP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI SỬ DỤNG TRÁI PHÉP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và những dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội xâm phạm sở hữu Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 và năm 2013 đã khẳng định tại Điều 15: Nhà nước phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng [32].
Quyền sở hữu đối với tài sản là quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ, pháp luật nước ta tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của Nhà nước, tổ chức và mọi công dân [18, tr. Theo đó, quyền sở hữu về tài sản của công dân, cơ quan, tổ chức, Nhà nước luôn luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Quyền sở hữu về tài sản theo quy định tại Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2005 gồm ba quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt về tài sản. Điều 182 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định quyền chiếm hữu tài sản thì đây là quyền của chủ sở hữu tài sản tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình.
Người không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền chiếm 16 z hữu tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định. Quyền sử dụng tài sản quy định tại Điều 192 Bộ luật dân sự năm 2005, đây là quyền của chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Đối với những người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng hoặc do pháp luật quy định. Điều 195 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định quyền định đoạt tài sản, đây là quyền của chủ sở hữu tài sản chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu như bán, tặng cho, thừa kế, từ bỏ tài sản.
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản là làm cho chủ sở hữu mất đi quyền năng chiếm hữu, quyền năng sử dụng, quyền năng định đoạt tài sản hoặc cả ba quyền năng trên. Để các hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản bị coi là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì nó phải thỏa mãn các dấu hiệu chung của tội phạm. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi xâm phạm sở hữu đều bị xử lý hình sự, việc xử lý phải trên cơ sở giáo dục, thuyết phục mọi công dân có ý thức chấp hành, nhắc nhở, cảnh cáo, xử lý hành chính, chúng ta chỉ xử lý hình sự đối với những trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể hay gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Vì vậy, ranh giới xác định trách nhiệm hình sự với các trách nhiệm pháp lý khác (dân sự, hành chính.) được phân định rõ ràng trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, hậu quả tác hại cũng như mối quan hệ xã hội bị xâm hại, và thái độ của người thực hiện hành vi.
Thực tế cho thấy các tội xâm phạm sở hữu đã gây ra những thiệt hại không nhỏ về tài sản và tính mạng, sức khỏe của công dân, ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, đơn vị cũng như đến hoạt động chung của xã hội. 17 z Xuất phát từ tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và năm 2013, Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã quy định tại Chương XIV - Các tội xâm phạm sở hữu để bảo vệ các lợi ích trên, qua đó bảo đảm các quyền năng của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp tài sản được ổn định và tuân thủ các quy tắc xã hội và quy định của pháp luật. Với những hành vi vi phạm pháp luật ở mức độ cao, cần thiết phải ngăn chặn và xử lý bằng pháp luật hình sự, Bộ luật hình sự đã quy định các tội phạm thành một chương để xử lý một nhóm hành vi xâm phạm đến một nhóm quan hệ xã hội được luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là các tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, trong phạm vi nội dung nghiên cứu của mục này, chúng tôi chỉ nêu khái niệm và những dấu hiệu pháp lý hình sự của nhóm tội để chứng minh rằng, cùng với các khách thể khác thì quyền sở hữu về tài sản cũng là một trong những khách thể quan trọng được luật hình sự Việt Nam bảo vệ, tôn trọng và bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến nhóm khách thể này bị xử lý theo các quy định tương ứng của Bộ luật hình sự.
Chính vì vậy, từ các quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sự, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm đang nghiên cứu có thể định nghĩa như sau: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XIV Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân. Các tội xâm phạm sở hữu mang đầy đủ các dấu hiệu chung của tội phạm gồm: các tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó có khả năng gây ra hoặc gây ra hậu quả pháp lý cho khách thể được luật hình sự bảo vệ. Các quan hệ sở hữu được luật hình sự bảo vệ thông qua việc quy định tội phạm và hình phạt đối với người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu vì đây là quan hệ xã hội tồn tại trong lĩnh vực tài sản. 18 z Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự, vì Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 khẳng định: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" [27].
Do vậy, chỉ các hành vi xâm phạm sở hữu được quy định từ Điều 133 đến Điều 145 thuộc Chương XIV - Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999 thì mới bị coi là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Người có năng lực trách nhiệm hình sự là con người cụ thể, đạt độ tuổi luật định, cũng như có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Ngoài ra, những người này phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung luật định.
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi. Lỗi là thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và chỉ người nào có lỗi mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi phải chịu hình phạt. Các hình phạt mà người phạm tội xâm phạm sở hữu bị áp dụng là các hình phạt được quy định trong hệ thống hình phạt của Bộ luật hình sự.
Các tội xâm phạm sở hữu mang đầy đủ bốn dấu hiệu pháp lý hình sự, bao gồm: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. * Khách thể của các tội xâm phạm sở hữu Khách thể của các tội xâm phạm sở hữu là quan hệ sở hữu được Bộ luật hình sự bảo vệ, đây là quan hệ giữa người với người về tài sản. Nội dung của quyền sở hữu tài sản gồm ba phân quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản. Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu chủ yếu là tài sản, những tài sản này thể hiện dưới dạng vật chất có giá trị, giá trị sử dụng và 19 z chúng là thước đo giá trị sức lao động của con người.
Đối với những tài sản không có giá trị hoặc giá trị sử dụng thì không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu như: tài nguyên thiên nhiên (như: rừng, khoáng sản), vật có tính năng công dụng đặc biệt (như: ma túy, vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, chất nổ, chất phóng xạ.) và những vật mà chủ sở hữu hủy bỏ hoặc từ chối quyền sở hữu (không phải là chủ sở hữu đánh rơi hoặc bỏ quên). Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu phải có chủ sở hữu cụ thể có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản. Đồng thời, những tài sản này có khả năng chuyển hóa được giữa các chủ sở hữu với nhau. Ngoài ra, đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản thể hiện bằng các loại giấy tờ có giá trị như cổ phiếu, trái phiếu, công trái.
Những tài sản được chôn cùng người chết nếu có hành vi xâm phạm thì không thuộc đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt. * Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu Mặt khách quan là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong thực tế khách quan [7, tr. Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản như hành vi cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản, sử dụng trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản.