Chương 1: Sự cần thiết quy định tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong Bộ luật Hình sự Chương 2: Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em 8 CHƢƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT QUY ĐỊNH TỘI MUA BÁN, ĐÁNH TRÁO HOẶC CHIẾM ĐOẠT TRẺ EM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em 1. Trẻ em - đối tượng đặc biệt cần được sự bảo vệ của pháp luật Có thể khẳng định rằng, trẻ em luôn là đối tượng được quan tâm của gia đình và xã hội. Trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm trẻ em như búp trên cành và đó cũng là quan niệm của cả dân tộc ta về thiếu niên nhi đồng - thế hệ măng non của đất nước. Chăm sóc, bảo vệ trẻ em là chăm lo cho hạnh phúc của chính chúng ta hôm nay, của tương lai chúng ta mai sau. Đó là truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta. Việc quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta chú ý từ rất sớm.
Đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đề cập tới vấn đề này, trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của xã hội ta. Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta với sự quan tâm đặc biệt đối với trẻ em đã có nhiều chủ trương, chính sách hướng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và đạo đức của trẻ em; đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chính sách tầm chiến lược, nhiều chương trình đào tạo, bồi dưỡng để đảm bảo mọi trẻ em đều có quyền được sống, phát triển, tham gia và được bảo vệ không bị xâm hại trong môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện, không bị phân biệt đối xử. Trong giai đoạn đất nước đổi mới, cùng với nhiều chính sách kinh tế, xã hội được ban hành, Nhà nước ta đã phê chuẩn Công 9 ước quốc tế về Quyền trẻ em (ngày 20 tháng 2 năm 1990). Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước này.
Với quan điểm cơ bản coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và trẻ em là tương lai của đất nước, Nhà nước ta đã luôn đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em lên hàng đầu trong các quyết định liên quan đến phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng và gia đình. Đầu tư cho công tác bảo vệ trẻ em là đầu tư cho an toàn xã hội, phát triển con người, là bảo hiểm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Có thể khẳng định, bảo vệ trẻ em là bảo vệ quyền con người. Việc đầu tư cho công tác bảo vệ trẻ em là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Trong giai đoạn đất nước đổi mới, Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, có đối tượng điều chỉnh là các nhóm quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Trẻ em với tính cách là một chủ thể pháp luật, các quan hệ xã hội về trẻ em cũng là một trong những đối tượng điều chỉnh của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật nước ta. Pháp luật về trẻ em có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều nhóm quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau. Các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam như Luật Hiến pháp, Luật Quốc tịch, Luật Hành chính, Luật Dân sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự.
đều bảo vệ quyền trẻ em theo một đặc thù riêng của ngành luật mình. Ví dụ: trong lĩnh vực Luật Hiến pháp, trẻ em được xem như một công dân đặc biệt. Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em được điều chỉnh dưới góc độ phạm trù quyền con người. Do vậy, Luật Hiến pháp bảo vệ quyền trẻ em bằng việc quy định các quyền cơ bản nhất của trẻ em, bao gồm quyền được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục.
Đồng thời, Luật Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm 10 của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ các quyền cơ bản này. Luật Quốc tịch là ngành luật thuộc hệ thống luật công, điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước với dân cư sống trên lãnh thổ Việt Nam. Luật Quốc tịch bảo vệ trẻ em bằng các quy định về sự có, mất, thay đổi quốc tịch, quốc tịch của người chưa thành niên, thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề quốc tịch. Quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của trẻ em; là căn cứ để trẻ em được hưởng sự bảo hộ pháp lý của Nhà nước, là một trong những điều kiện cơ bản để xác định tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra cho đến khi chết.
Rõ ràng, Luật Quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Luật Hành chính là một ngành luật về quản lý Nhà nước, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý Nhà nước. Trẻ em với tư cách là một chủ thể xã hội, cũng là đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính. Mọi lĩnh vực mà khi trẻ em tham gia như hoạt động học tập, vui chơi, giải trí hay các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, y tế, giáo dục đều chịu sự quản lý của Nhà nước.
Cũng như các ngành luật khác, Luật Hành chính coi trẻ em là một đối tượng đặc biệt nên khi quy định trách nhiệm hành chính đối với trẻ em, Luật Hành chính đều có quy định riêng áp dụng đối với trẻ em vi phạm hành chính. Luật Hành chính còn tạo ra một cơ chế quản lý đối với trẻ em vi phạm hành chính bao gồm các biện pháp xử lý hành chính như giáo dục tại xã phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng và các tổ chức, cơ sở nhằm giáo dục trẻ em, đưa trẻ em trở lại cuộc sống bình thường. Như vậy, có thể nói Luật Hành chính cũng góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền trẻ em dưới góc độ quản lý Nhà nước, một đặc thù riêng của Luật Hành chính. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 là văn bản chuyên biệt có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định cụ thể về quyền và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình, nhà trường và của toàn xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Luật này đã xác 11 định: "trẻ em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật" [30]. Tuy nhiên, hiện nay trong xã hội vẫn còn xảy ra nhiều hành vi phạm pháp như nạn bạo hành trẻ em diễn ra ở không ít gia đình, ở một số nơi thuê mướn việc làm, thậm chí ngay cả trong lớp học và cơ sở nuôi dạy trẻ, nghiêm trọng hơn, trẻ em đang trở thành một món hàng để trao đổi, mua bán. Công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở nước ta đang đứng trước những vấn đề bức xúc đòi hỏi cần phải giải quyết. Các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam như Luật Hành chính, Luật Quốc tịch.
không có đủ chế tài để bảo vệ trẻ em trong khi đó, Luật Hình sự với hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm đồng thời quy định hình phạt đối với những tội phạm ấy "là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm" [4, tr. Luật Hình sự là một ngành luật điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội. Trẻ em là một chủ thể đặc biệt của pháp luật hình sự. Pháp luật hình sự có chính sách hình sự riêng đối với trẻ em nhằm bảo vệ trẻ em khi họ là đối tượng bị tội phạm xâm hại, đồng thời cũng quy định TNHS nhưng theo hướng giảm nhẹ đối với người chưa thành niên khi họ chính là người thực hiện tội phạm.
Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện thống nhất trong những quy định cụ thể của pháp luật hình sự về TNHS, về nguyên tắc xử lý, về hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Đặc biệt, luật hình sự quy định những hình phạt nghiêm khắc đối với các tội phạm xâm hại đến quyền của trẻ em. 12 Ở nước ta, hiện tượng buôn bán người đã xuất hiện từ lâu và bị lên án một cách mạnh mẽ. Buôn bán trẻ em thực sự là tội ác, gây nhức nhối cho toàn xã hội, từ lâu đã trở thành mối quan tâm của cả cộng đồng.
Trẻ em bị buôn bán đã phải rơi vào những hoàn cảnh sống rất thương tâm. Các em bị bóc lột và bị lạm dụng về tình dục một cách thậm tệ, đôi khi còn ở ngay cả những nơi làm việc thông thường như lao động trong nhà máy, giúp việc trong gia đình. Buôn bán trẻ em không chỉ tác động trực tiếp đến cuộc sống, sức khỏe, nhân phẩm, tinh thần của trẻ mà còn tác động tiêu cực đến xã hội trên nhiều phương diện khác nhau như: ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, đời sống văn hóa, tinh thần, chính trị, quan hệ gia đình và các dịch vụ xã hội khác. Bên cạnh đó, hiện nay đã xuất hiện những tổ chức, đường dây buôn bán người hoạt động xuyên quốc gia, đe dọa nghiêm trọng đến quyền được bảo vệ, được sống hạnh phúc của con người nói chung và của trẻ em nói riêng.