CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI 1. Các khái niệm có liên quan 1.1 Khái niệm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Lao động đến một mức nào đó thì cảm giác mệt mỏi sinh lý bắt đầu xuất hiện. Đó là một cơ chế bảo vệ, như cái phanh, bắt cơ thể ngừng hoạt động để khỏi kiệt sức. Để có thể làm việc hiệu quả, người lao động phải có thời gian nhất định giành cho nghỉ ngơi.
Đó chính là giai đoạn mà người lao động tái sản xuất sức lao động. Như vậy, thời giờ làm việc là có giới hạn. Theo Diệp Thành Nguyên(2005), “ thời giờ làm việc là độ dài thời gian mà người lao động phải tiến hành lao động theo quy định của pháp luật, theo thoả ước lao động tập thể hoặc theo hợp đồng lao động”[10,Tr. 74] Theo Bộ luật Lao động 2012, thời giờ làm việc được quy định như sau: “Điều 104.
Thời giờ làm việc bình thường: - Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần. - Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần. - Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ - Thời giờ làm việc không quá 06 giờ trong 01 ngày đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh 10 mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành." Thời giờ nghỉ ngơi là độ dài thời gian mà người lao động được tự do sử dụng ngoài nghĩa vụ lao động thực hiện trong thời giờ làm việc. Nội dung về thời giờ nghỉ ngơi được quy định cụ thể từ Điều 108 đến Điều 117 - Bộ luật Lao động 2012và Điều 5 đến Điều 8 Nghị định 45/2013/NĐ-CP, cụ thể: - Nghỉ trong giờ làm việc: • Người lao động làm việc 8 giờ liên tục trong điều kiện bình thường hoặc làm việc 7 giờ, 6 giờ liên tục trong trường hợp được rút ngắn thời giờ làm việc thì được nghỉ ít nhất nửa giờ (30 phút), tính vào giờ làm việc; Ngoài ra, người lao động làm việc trong ngày từ 10 giờ trở lên kể cả số giờ làm thêm thì được nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc.
• Người làm ca đêm (từ 22 giờ đến 6 giờ hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ) được nghỉ giữa ca ít nhất 45 phút, tính vào giờ làm việc; • Người lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca khác. Rõ ràng, trong quan hệ lao động, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chế định độc lập và không thể tách rời trong luật lao động. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được nghiên cứu dưới nhiều góc độ như khoa học, kinh tế - lao động …, về mặt pháp lý có thể hiểu thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi như sau: - Thời giờ làm việc: là khoảng thời gian do pháp luật quy định hoặc do sự thỏa thuận của các bên, trong thời gian đó người lao động phải có mặt tại 11 địa điểm để thực hiện những công việc, nhiệm vụ được giao phù hợp với các quy định của pháp luật và sự thỏa thuận trong hợp đồng lao động. - Thời giờ nghỉ ngơi: là khoảng thời gian trong đó người lao động không phải thực hiện những nghĩa vụ lao động và có quyền sử dụng thời gian đó theo ý muốn của mình.
Tóm lại, dù thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có được nghiên cứu dưới góc độ gì đi nữa thì mục đích chính của việc nghiên cứu đó cũng là để tìm ra một thời giờ làm việc hợp lý, một thời gian nghỉ ngơi thích hợp nhằm tăng năng suất lao động đồng thời bảo vệ sức khỏe cho người lao động.2 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người lao động làm những công việc có tính chất đặc biệt Đối với các công việc có tính chất đặc biệt như: vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, người lái, tiếp viên, kiểm soát viên không lưu ngành hàng không; thăm dò khai thác dầu khí trên biển; trong các lĩnh vực nghệ thuật, áp dụng kỹ thuật bức xạ và hạt nhân, ứng dụng, kỹ thuật sóng cao tầng; thợ lặn; thợ mỏ hầm lò thì các Bộ trực tiếp quản lý quy định cụ thể thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi sau khi thỏa thuận với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Không được sử dụng lao động nữ làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc các chất độc hại có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con. Ngoài ra, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi đối với những người lao động làm hợp đồng không trọn ngày, không trọn tuần, làm khoán, thì do người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận riêng. 12 Thông tư 42 /2011/TT-BGTVT quy định Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của nhân viên thông tin, dẫn đường, giám sát hàng không như sau: Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của nhân viên thông tin, dẫn đường, giám sát hàng không làm việc tại các đài, trạm ở vùng xa, vùng cao, hải đảo không có điều kiện đi về trong ngày (làm việc theo chu kỳ) được quy định như sau: - Chu kỳ làm việc được tính từ ngày người lao động bắt đầu làm việc cho đến ngày kết thúc ở nơi làm việc (bao gồm cả thời gian đi đường từ cơ quan đến đài, trạm và ngược lại).
Căn cứ tính chất công việc, điều kiện đi lại, người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận làm việc theo chu kỳ, nhưng thời gian làm việc tối thiểu là 2 ngày và tối đa không quá 15 ngày, tổng số giờ làm việc và giờ làm thêm của người lao động không quá 12 giờ/ngày, 232 giờ/tháng; tổng số giờ làm thêm không quá 300 giờ trong một năm; - Sau mỗi chu kỳ làm việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí cho người lao động được nghỉ số ngày bằng với số ngày làm việc tại đài, trạm, sau đó mới được bố trí chu kỳ làm việc tiếp theo; 1.3 Chế độ làm việc, nghỉ ngơi khoa học Theo Nguyễn Tiệp (2011), “chế độ làm việc và nghỉ ngơi là trật tự luân phiên và độ dài thời gian của các giai đoạn làm việc và nghỉ giải lao được thành lập đối với mỗi dạng lao động” [11,Tr. 234] Vì vậy, chế độ làm việc và nghỉ ngơi đảm bảo giữ được khả năng làm việc của người lao động ở mức độ cao và lâu dài, đảm bảo sức khỏe và hoàn thiện cá nhân người lao động là chế độ làm việc, nghỉ ngơi khoa học. Chế độ làm việc và nghỉ ngơi khoa học thực hiện đảm bảo nguyên tắc: 13 - Sự luân phiên giữa thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi là một phương tiện để chống mệt mỏi, năng cao khả năng làm việc và hiệu quả lao động. - Thời gian nghỉ ngơi phải được quy định chặt chẽ mới có hiệu quả.
- Phải tính toán độ dài thời gian nghỉ và hình thức nghỉ sao cho hạn chế việc xuất hiện mệt mỏi, giữ khả năng làm việc cao. - Không được bố trí người lao động làm hai ca liên tục nhiều ngày liền. Rõ ràng, chế độ làm việc, nghỉ ngơi khoa học là một trật tự luân phiên, đảm bảo sự tương quan và kết hợp đúng đắn giữa thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi để tăng năng suất, hiệu quả lao động, duy trì khả năng làm việc cao và ổn định cho người lao động Trách nhiệm của việc xây dựng chế độ làm việc và nghỉ ngơi là tối ưu hóa khả năng làm việc, đảm bảo thời kỳ mà khả năng làm việc đạt ở mức cao và ổn định. Xây dựng chế độ làm việc và nghỉ ngơi khoa học bao gồm các nội dung sau.
- Xác định thời gian ca làm việc: Thời gian ca làm việc được xác định là từ thời gian bắt đầu đến thời gian kết thúc ca làm việc. Trong điều kiện bình thường, thời gian bắt đầu và kết thúc một ca làm việc là 8 giờ (trường hợp đặc biết nặng nhọc, độc hại. có thể được rút ngắn từ 1 đến 2 giờ). Thời gian trong ca làm việc có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng làm việc.
Căn cứ vào quy luật sinh học của con người, không nên bắt đầu ca làm việc quá sớm và kết thúc quá muộn, bởi vì như thế có ảnh hưởng xấu tới đến khả năng làm việc của con người. - Xác định thời điểm và độ dài thời gian nghỉ giữa ca: 14 Con người không thể làm việc liên tục suốt ngày được. Do vậy, cần phải có thời gian để nghỉ ngơi và giải quyết các nhu cầu cần thiết của con người. Trong thời gian nghỉ có nghỉ giữ ca để cho người lao động ăn cơm hoặc ăn bồi dưỡng, thời gian nghỉ này có vài trò đặc biệt quan trọng.
Độ dài thời gian nghỉ phải đảm bảo khôi phục đủ sức lực của người lao động, nhưng cũng không nên xác định bố trí quá lớn vì như vậy sẽ làm thời kỳ tăng khả năng làm việc sau khi nghỉ giữa ca sẽ kéo dài ra và sẽ dẫn đến kết quả lao động giảm sút. Các nhà sinh lý học đã xác nhận rằng độ dài tối ưu của thời gian nghỉ giữa các ca là từ 30 đến 60 phút. - Xác định độ dài và số lần nghỉ ngắn trong ca Ngoài thời gian nghỉ giữa ca còn có các loại thời gian nghỉ ngắn rất cần thiết như: • Nghỉ ngắn: là thời gian ngừng việc giây lát khi thực hiện các bước công việc hay thao tác , động tác, nó gắn liền với những nhịp độ lao động. • Nghỉ giải lao: là thời gian nghỉ kéo dài khoảng 5 đến 10 phút để tạm thời hạn chế sự phát triển mệt mỏi làm giảm khả năng làm việc, nhằm khắc phục và bình thường hóa các chức năng sinh lý của cơ thể.
Căn cứ vào tính chất và điều kiện lao động đồng thời nắm vững các quy luật sinh lý của sự mệt mỏi và các yếu tố gây mệt mỏi như sự căng thẳng thần kinh, về thể lực, về tư thế làm việc, nhịp độ, tính chất đơn điệu của công việc, độ ẩm , ánh sáng, tiếng ồn.