Chương 1: Tổng quan về Bệnh viện K và tổ chức công tác hành chính. Chương 2: Thực trạng tô chức công tác hành chính tại Bệnh viện K. Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức công tác hành chính tai Bệnh viện K. Luận văn được hoàn thành với sự hướng dan của PGS.TS Đào Đức Thuận.
Tác giả luận văn mong nhận được góp ý, chỉ dạy của thầy cô và các anh chị em học viên cùng khóa đề hoàn thiện hơn. TONG QUAN VE BỆNH VIỆN K VA TO CHỨC CONG TAC HANH CHINH 1. Khai quat chung vé Bénh vién K 1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Bệnh viện K 1.
Viện Curie Đông Dương trước năm 1954 Bệnh viện K hiện nay có tiền thân là Viện Radium Đông Dương (hay có tên gọi khác là Viện Curie Đông Dương) được thành lập vào ngày 19/10/1923. Tại thời điểm thành lập Viện Curie Đông Dương vốn là một tổ chức từ thiện, có chức năng nghiên cứu khoa học và theo đuổi 4 mục tiêu chính: Thứ nhất, Xây dựng tại Hà Nội và các khu vực khác ở Đông Dương các viện điều trị ung thư bằng tia phóng xạ từ nguồn Radium và tia X. Thứ hai, Theo dõi, nghiên cứu các khối u ác tính tại Đông Dương. Thứ ba, Tổ chức một mạng lưới các cơ sở phòng chống ung thư.
Thứ tư, Điều trị những bệnh nhân mac bénh ung thu. Xuất phát từ hình hình kinh tế xã hội lúc bay giờ, Bệnh viện hoạt động với nhiều khó khăn và thách với với số lượng và chất lượng cơ sở vật chất và các phương tiện khám chữa bệnh chưa được đáp ứng đầy đủ theo khoa học. Lúc này Viện mới chỉ có một cơ sở chính ở miền Bắc Việt Nam là Viện Radium Đông Dương (tiền thân là Viện Curie Đông Dương, nay là Bệnh viện K) và một cơ sở điều trị đặt tại Bệnh viện Bảo hộ (Bệnh viện Phủ Doãn, tức Bệnh viện Việt Đức ngày nay). Trong quá trình tô chức hoạt động, Viện Radium lúc đầu hoạt động như một hội, do một vị chủ tịch đứng đầu.
Kê từ khi thành lập 1923 cho đến năm 1945 đã có nhiều người đảm nhiệm chức vụ này như: Luật sư Mourlan (1923), Henri Tissot (1926), Le Roy des Barres và Piérre Huard (1933), Sauvage, Long (1934). Sau đại chiến thé giới thứ hai, nhất là vụ Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945 đã làm đảo lộn hoàn toàn cục diện chính tri trong nước. Trong hoàn cảnh đó, Viện Radium không tránh khỏi những biến đổi từ đó. Trong suốt hơn 20 năm hình thành và phát triển, Viện đã xác lập được vai trò và có một vi tri quan trọng trong việc điều trị bệnh ung thư ở Việt Nam, góp phần làm giảm bớt số lượng bệnh nhân tử vong vì căn bệnh nan y này.
Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, thực dân Pháp tái chiếm Hà Nội, Viện 11 Radium bị tận dụng làm trụ sở của quân Pháp do Sainteny đứng đầu, bên cạnh tướng Moliére, chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp đóng tại trụ sở báo Nhân dân ngày nay (số 71 Hàng Trống, Hà Nội). Sau 2 tháng bị chiếm đóng, Viện được trả lại đúng chức năng chuyên môn, các hoạt động của Viện Radium cũng dần dần được phục hồi trở lại. Lúc này, Chủ tịch Viện Radium là Bác sỹ Long, sau nhiều biến cố, nhất là 60 ngày đêm khói lửa ở Hà Nội, cơ sở vật chất và các phương tiện khám chữa bệnh của Viện Radium vẫn được bảo toàn gần như nguyên vẹn. Đầu năm 1948, Hội ung thư Việt Nam được thành lập do BS.
Nguyễn Xuân Chữ làm Chủ tịch. Ông cũng đồng thời đảm nhiệm việc điều trị bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Phủ Doãn. Trong những năm 1948 — 1954, ngoài Bác sỹ Long, Bác sỹ Nguyễn Xuân Chữ, Viện Radium còn có sự cộng tác của Giáo su Huard và các bác sỹ: Oliver, Chardon, Jisslt, Bác sỹ Lương Tan Trường. Hiệp nghị Genève được kí kết (7/1954), quân đội Pháp rút khỏi miền Bắc.
Tại các Bệnh viện ở Hà Nội, trong đó có Viện Radium, một số bác sĩ đã di cư vào miền Nam. Vì là một tổ chức tư nhân nên đến năm 1957, Viện mới được Pháp chính thức bàn giao cho Chính phủ Việt Nam. Thực hiện tiếp quan Viện Radium có các bác sĩ Nguyễn Như Bằng, Đỗ Bá Hiên, Phạm Thụy Liên, Lương Tan Trường, Phan Huy Chữ và y tá Đỗ Thiên Thu. Như vậy, từ một cơ sở y tế tư nhân hình thành dưới thời thuộc địa, Viện Radium từ nay đã trở thành tài sản của nhân dân và trở thành một bộ phận không thé tách rời của nền y học Việt Nam.
Khoa Ung thư cua Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, tiền thân của Bệnh viện K Năm 1959 Viện Radium được sát nhập vào nhà thương Phu Doãn (sau là Bệnh viện Việt - Đức) và trở thành khoa Ủng thư của Bệnh viện này trong những năm 1959 — 1969. Giám đốc của viện là Giáo sư Tôn Thất Tùng, lúc này cũng là Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn, sau là (Bệnh viện Việt Đức) và trở thành khoa Ung thư của Bệnh viện này trong những năm từ 1959 — 1969. Từ năm 1960 đến năm 1969, dé chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc phát triển thành Viện trong tương lai, Khoa đã bat đầu xây dựng các bộ phận cận lâm sàng mang tính chất độc lập. Từ buổi ban đầu hoàn toàn phụ thuộc vào Bệnh viện Việt — Đức về mặt tài chính, các cán bộ y bác sĩ của khoa đã chủ động tô chức và tự đảm nhiệm được công tác chuyên môn theo phạm vi nhiệm vu của mình.
Bệnh viện K thành lập Ngày 17 tháng 7 năm 1969, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định số 711/QD-BYT thành lập Bệnh viện K trên cơ sở Khoa Ung thư của Bệnh viện Việt Đức. Từ đây ngành nghiên cứu và chữa trị bệnh ung thư Việt Nam cũng đã bắt đầu bước sang giai đoạn mới, góp phần đắc lực trong việc phục vụ sức khỏe nhân dân. Đây là Bệnh viện chuyên khoa ung bướu trực thuộc bộ Bộ y tế và được khang định lại theo Quyết định số 246/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Bệnh viện K là một Bệnh viện lớn mang tầm định hướng phát triển trở thành Bệnh viện chuyên khoa ung bướu hạng đặc biệt của Việt Nam, có nhiều cơ sở vật chất khang trang, sạch đẹp, có nguồn nhân lực chất lượng cao và có trang thiết bị hiện tại.
Chức năng và nhiệm vụ của Bệnh viện K Chức năng và nhiệm vụ của Bệnh viện K được thực hiện theo quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của Bệnh viện K ban hành kèm theo Quyết định số 5737/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 26/9/2018 về việc ban hành Quy chế tô chức và hoạt động của Bệnh viện K, theo đó gồm các chức năng và nhiệm vụ như sau: - Công tác khám bệnh, chữa bệnh bao gồm: tô chức cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, cấp cứu chuyên khoa ung bướu và các bệnh trong khả năng của Bệnh viện cho người bệnh trong nước, người bệnh là người nước ngoài, phục vụ công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân; Tô chức triển khai thực hiện các kỹ thuật y học hiện đại;Tham gia công tác giám định y khoa được Bộ Y tế giao; Phục hồi chức năng sau điều trị và phục hồi chức năng tại cộng đồng; Nghiên cứu, áp dụng, mở rộng quy mô, phạm vi các hoạt động dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo đúng quy định của pháp luật; Tư vấn, khám sức khỏe, kiểm tra sức khỏe cho đối tượng có nhu cầu; - Công tác nghiên cứu khoa học bao gồm: Tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ; nghiên cứu, ứng dụng, chuyền giao các kỹ thuật mới, phương pháp mới trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; tham gia nghiên cứu để giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của người dân tại địa phương và trong cả nước; Chủ trì và tham gia các công trình nghiên cứu khoa học theo sự phân công của cấp có thâm quyền; Tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học theo quy định của pháp luật; Thực 13 hiện các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo đúng quy định của pháp luật. - Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực y tế bao gồm: Bệnh viện K cơ sở thực hành của một số cơ sở đào tạo nhân lực y tế theo quy định của pháp luật và của Bộ Y tế; Tham gia dao tạo diéu dưỡng, kỹ thuật viên, bác sĩ, bác sĩ nội trú, thạc si y học, tiễn sĩ y hoc, bác sĩ chuyên khoa I, bac sĩ chuyên khoa II;Tham gia dao tao sinh viên, thực tập sinh và nghiên cứu sinh nước ngoài đến học tập và nghiên cứu tại Bệnh viện; Đào tạo liên tục và đảo tạo phát triển nghề nghiệp cho cán bộ, viên chức trong Bệnh viện và các cơ sở y tế khác có nhu cau;. " - Công tác chi đạo tuyến, bao gồm các chức năng như: tham mưu giúp Bộ Y tế xây dựng hệ thống mạng lưới các cơ sở khám chữa bệnh và phòng bệnh cho các tỉnh, thành phố trong cả nước quy định tại Quyết định số 4026/QD-BYT ngày 20 tháng 10 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế và các văn bản có liên quan;Tham gia hỗ trợ tuyến dưới tổ chức triển khai các chương trình, dự án phát triển y tế cơ sở. Chuyên giao và hỗ trợ các kỹ thuật chuyên môn cho các tuyến theo quy định của cấp có thâm quyền và các cơ quan, đơn vị khác có nhu cầu; Theo dõi, giám sát các hoạt động chuyên môn khu vực được phân công; - Liên quan đến công tác hợp tác quốc tế, Bệnh viện K có chức năng như: Chủ động khai thác, thiết lập các mối quan hệ hợp tác, trao đối kinh nghiệm và trao đổi chuyên gia về khám bệnh, chữa bệnh; nghiên cứu khoa học; đào tạo cán bộ với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; xây dựng các dự án đầu tư liên doanh, liên kết với các nước và các tô chức quốc tế về dịch vụ y tế theo quy định của pháp luật.