CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế (Peter S.Rose – Quản trị ngân hàng thương mại - NXB đại học KTQD 2012- trang 7) Từ nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng khiến các NHTM nhiều khi được gọi là các “Bách hóa tài chính”. Chức năng của Ngân hàng thương mại Một NHTM trong quá trình hoạt động của mình thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay, cung cấp các dịch vụ,…thực hiện các chức năng cơ bản: - Chức năng tạo tiền - Chức năng trung gian thanh toán - Chức năng trung gian tín dụng Trong đó, chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và Luan van 6 người đi vay.
Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, là một trong những hoạt động mang đến lợi nhuận lớn nhất cho NHTM. Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng.
Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tuy nhiên trong sự phát triển của mình, các hình thức quan hệ tín dụng trước không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một hình thức tín dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại và bổ sung lẫn nhau, và nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế.
Với công nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế. Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng theo mục đích và trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận. Bên vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi vay cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Tín dụng ngân hàng không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông Luan van 7 qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi. Đặc điểm và vai trò của tín dụng ngân hàng a. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một loại hình tín dụng đặc biệt, vì vậy cũng như các loại hình tín dụng khác như tín dụng thương mại, tín dụng tiêu dung, tín dụng thuê mua,…tín dụng ngân hàng mang đặc điểm chung của tín dụng: Có tính hoàn trả: Quyền sử dụng vốn chỉ được chuyển nhượng có thời hạn, khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả lại vốn của người cho vay Khi thực hiện hợp đồng tín dụng thì bên cho vay chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho bên đi vay, không chuyển nhượng quyền sở hữu vốn Chủ sở hữu vốn được hưởng lợi tức tín dụng gọi là lãi suất do người đi vay trả. Đây gọi là chi phí sử dụng vốn vay Ngoài ra, với đặc thù riêng của mình thì tín dụng ngân hàng có những đặc điểm riêng biệt so với các loại hình tín dụng khác: Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, là trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu vốn Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền tệ là loại hình tín dụng linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân.
Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại. Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường Luan van 8 hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp.
Đây là một hiện tượng rất bình thường của nền kinh tế. Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại Với chức năng, đặc điểm của mình, hoạt động tín dụng của các NHTM có vai trò vô cùng quan trọng đối với hầu hết các chủ thể liên quan: Đối với các NHTM: Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu (lợi nhuận) lớn nhất cho ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng ngoài nghiệp vụ truyền thống là cho vay thì ngày nay với sự phát triển của nền kinh tế còn phát triển một thêm một số nghiệp vụ như: Bảo lãnh, cam kết thanh toán,…Hoạt động tín dụng chính là hoạt động cơ bản, trọng tâm của các ngân hàng thương mại, là cơ sở để các NHTM phát triển các hoạt động khác: Chuyển tiền, thanh toán quốc tế, huy động vốn,…nhìn chung hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản, đóng vai trò trọng tâm cho sự phát triển của các NHTM. Đối với khách hàng: Thông qua tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp được đáp ứng nhu cầu vốn, một nhân tố quan trọng giúp cho các doanh nghiệp đó duy trì và mở rộng quá trình sản xuất kinh doanh, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn luôn đóng vai trò quan trọng tiên quyết mà trong quá trình hoạt động thì các doanh nghiệp hoặc cá nhân không phải lúc nào cũng có đủ 100% vốn đáp ứng nhu cầu của mình. Nhờ có tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp/ cá nhân được đáp ứng đủ nguồn vốn, đúng thời điểm để thực hiện các nhu cầu sản xuất, kinh doanh của mình. Đối với nền kinh tế: - Tín dụng ngân hàng là bộ phận tham gia tích cực vào quá trình chu chuyển vốn của doanh nghiệp và đồng thời là công cụ kích thích quá trình sản xuất, quản lý kinh tế, kiểm tra, đôn đốc các hoạt động của doanh nghiệp. Việc các doanh nghiệp Luan van 9 sử dụng vốn vay tín dụng sẽ đòi hỏi các doanh nghiệp thực hiện các phương án sản xuất, kinh doanh hiệu quả hơn (vì sẽ có áp lực trả nợ gốc và lãi).
Mặt khác việc doanh nghiệp vay vốn của các NHTM cũng khiến các NHTM phải thẩm định kỹ lưỡng phương án vay vốn và quá trình sử dụng vốn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp - Tín dụng làm giảm bớt chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tốc độ tuần hoàn chu chuyển vốn. Việc có nguồn vốn vay có thể giúp doanh nghiệp đẩy nhanh vào việc thực hiện phương án sản xuất kinh doanh mới mà chưa cần thu tiền từ phương án cũ về (trong thời gian chờ đợi). Điều này giúp doanh nghiệp tăng vòng quay sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa cũng như tốc độ chu chuyển vốn - Tín dụng tạo điều kiện tăng cường phân phối lại vốn trong toàn bộ nền kinh tế, giúp điều tiết vốn từ nơi tạm thừa sang nơi thiếu, điều này giúp cho nguồn vốn của nền kinh tế hiệu quả hơn, thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế - Tín dụng góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, phát triển thị trường thế giới cho các doanh nghiệp trong nước.