Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN YÊN BÁC TỈNH LẠNG SƠN 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Yên Bác là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Lạng Sơn. Địa giới của huyện vào nửa đầu thế kỷ XIX đã được sách Đại Nam nhất thống chí chép lại như sau: “Cách phủ 55 dặm về phía nam, đông tây cách nhau 58 dặm, nam bắc cách nhau 98 dặm, phía đông đến địa giới châu Tiên Yên tỉnh Quảng Yên 25 dặm, phía tây đến địa giới châu Ôn 33 dặm, phía nam đến địa giới huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Yên và địa giới huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Ninh 60 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Lộc Bình 38 dặm” [40, tr.
Sách Đồng Khánh địa dư chí cũng có miêu tả chi tiết về vị trí xưa của huyện Yên Bác: “Huyện lỵ ở phía đông thành tỉnh. Nguyên trước đóng ở phố Na Dương tổng Đông Quan. Phía nam giáp sơn phận huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Ninh. Phía bắc giáp châu Lộc Bình và châu Tiên Yên tỉnh Quảng Yên.
Phía đông giáp huyện Hoành Bồ và châu Tiên Yên tỉnh Quảng Yên và huyện Đông Triều tỉnh Hải Dương. Phía tây giáp địa phận châu Ôn. Từ địa giới phía nam ở xã Yên Động lên địa giới phía bắc ở xã Sằn Viên, đi khoảng 2 ngày rưỡi. Từ địa giới phía đông ở xã Diên Lạc sang địa giới phía tây ở xã Xuân Dương, đi khoảng 1 ngày” [55, tr.
Theo cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời: “Thời thuộc Pháp, huyện Yên Bác, sau là huyện Sơn Động, đổi lệ vào tỉnh Bắc Giang mới đặt năm 1895” [1, tr. 219], “… tách huyện Yên Bác tỉnh Lạng Sơn về đặt làm châu Sơn Động…” [1, tr. Tuy nhiên, trong cuốn Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc-Kỳ ghi chép địa giới hành chính vào cuối thế kỷ XIX trở về trước và bản đồ hành chính hiện nay thì còn một số xã (Quan Bản, Đông Quan, Sàn Viên, Lợi Bác, Xuân Dương, Lâm Ca, Thái Bình) của huyện Yên Bác xưa hiện nay vẫn thuộc địa phận tỉnh Lạng Sơn. Trải qua những biến động về lịch sử hành chính, địa giới của huyện Yên Bác cũng có những thay đổi.
Hiện nay, huyện Yên Bác có diện tích khoảng 696 km2, nằm trong khoảng tọa độ địa lý 21018’ vĩ độ Bắc, 106049’ kinh độ Đông. Theo cuốn Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc-Kỳ, địa giới của Yên Bác hiện nay, một phần 8 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn thuộc địa phận huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang gồm 8 xã: Phúc Thắng, Vĩnh Khương, Hữu Sản, Lệ Viễn, An Bá, An Châu, Thái Bình, Lâm Ca (thuộc tổng Yên Châu, Thái Bình, Lệ Viễn xưa) [19, tr. 46-48]; một phần thuộc địa phận huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn gồm 5 xã: Quan Bản, Đông Quan, Sàn Viên, Lợi Bác, Xuân Dương (thuộc tổng Đông Quan xưa) [19, tr. Theo bản đồ hành chính hiện nay, địa giới của Yên Bác, một phần thuộc địa phận huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang gồm thị trấn An Châu và 6 xã: Phúc Thắng, Vĩnh Khương, Hữu Sản, Lệ Viễn, An Bá, An Châu (thuộc tổng Yên Châu, Lệ Viễn xưa); một phần thuộc địa phận huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn gồm 5 xã: Quan Bản, Đông Quan, Sàn Viên, Lợi Bác, Xuân Dương (thuộc tổng Đông Quan xưa); một phần thuộc địa phận huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn gồm 2 xã: Lâm Ca, Thái Bình (thuộc tổng Thái Bình xưa).
Với vị trí địa lý như vậy, Yên Bác luôn giữ vai trò là một vùng đất hiểm yếu, có khả năng phát triển kinh tế - xã hội, là nơi giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa các vùng, tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân tới đây làm ăn, sinh sống. Đồng thời thúc đẩy quá trình tiếp xúc, giao thoa văn hóa giữa miền núi và đồng bằng. Điều kiện tự nhiên Yên Bác là huyện có cấu tạo địa chất lâu đời cách ngày nay hàng trăm triệu năm, những hoạt động trong quá trình kiến tạo nhìn chung là hòa nhập với toàn bộ khu vực Đông Bắc của Việt Nam và Trung Quốc. Địa hình tương đối phức tạp do chịu tác động của các đợt vận động kiến tạo về địa lý, địa chất.
Một phần Yên Bác nằm trong vùng “máng trũng Thất Khê – Lộc Bình”. Nơi đây có nhiều cánh đồng rộng như Lợi Bác – Na Dương. Địa hình dốc dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, độ dốc khá lớn. Dạng địa hình chủ yếu là núi thấp và đồi.
Ở các xã của Yên Bác thuộc địa phận huyện Lộc Bình hiện nay nằm trong lưu vực sông Kỳ Cùng, độ cao trung bình so với mặt nước biển 352m, địa hình chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi cao có độ dốc > 200, chạy bao quanh huyện theo hình cánh cung, có độ cao trung bình từ 700 – 900m, trong đó có xã Lợi Bác; vùng đồi núi thấp có độ dốc từ 8 – 150, trong đó có xã Quan Bản; và vùng thung lũng bằng gồm các xã chạy dọc theo Quốc Lộ 4B, một phần chạy dọc theo sông Kỳ Cùng. Ở các xã thuộc địa phận huyện Sơn Động có độ cao trung bình so với mặt nước biển là 450 m, độ dốc lớn, là đầu nguồn của sông Lục Nam, ngoài ra còn có các cánh đồng nhỏ, hẹp nằm xen kẽ với những dải đồi núi. Sách Đồng Khánh địa dư chí đã viết: “Yên Bác nhiều núi đất” [55, tr. “Các ngọn núi 9 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn đất liên tiếp nhau, đều chỉ do dân địa phương đặt ra tên gọi, không có núi nào nổi tiếng” [55, tr.
Yên Bác là huyện có nhiều sông, suối. Trên địa bàn huyện Sơn Động hiện nay có một con sông chính chảy qua, đó là sông Lục Nam. Sông Lục Nam có nhiều tên gọi: sông Minh Đức, sông Bè hay sông An Châu, sông Còng. Sách Đồng Khánh địa dư chí chép: “Một sông nhỏ do các khe suối nhỏ ở hai tổng Lệ Viễn, Yên Châu huyện Yên Bác hợp dòng chảy đến xã Yên Châu, gọi là sông Yên Châu, rồi chảy vào huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Ninh” [55, tr.
Sông Lục Nam bắt nguồn từ Đình Lập (Lạng Sơn), chảy vào Sơn Động ở Hữu Sản qua địa phận Sơn Động dài khoảng 40km. Sông Lục Nam hoà cùng núi rừng trùng điệp của vùng đông bắc tạo nên một thắng cảnh hùng vĩ. Từ Hữu Sản đến Khe Rỗ (An Lạc), sông chảy theo hướng đông bắc – tây nam, đến Lệ Viễn đổi hướng đông – tây chảy qua An Lập, An Châu, An Bá, Yên Định rồi hợp lưu với ba nhánh sông khác, đó là: Sông Rãng bắt nguồn từ xã Long Sơn chảy qua xã Dương Hưu, một phần xã An Lạc, qua xã An Châu, gặp sông Lục Nam ở xã An Bá. Nhánh sông này dài khoảng 26km.
Sông Cẩm Đàn, bắt nguồn từ khu vực 2 xã Thạch Sơn và Phúc Thắng, chảy theo hướng Bắc Nam, dài 21 km, qua Yên Định và đổ về sông chính ở Cẩm Đàn. Sông Tuấn Đạo hay còn gọi là sông Thanh Luận, bắt nguồn từ khu vực 2 xã Thanh Sơn, Thanh Luận, dài 11 km. Hiện tại, trên hệ thống sông Lục Nam đã xây dựng khoảng 170 công trình chủ yếu là hồ, đập để phục vụ nước tưới cho các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam. Lưu lượng nước hàng năm khoảng 1,86 tỷ m3.
Ngoài ra, thác Ba Tầm tại xã Vĩnh Khương, Sơn Động có nhiều cảnh đẹp và nguồn nước dồi dào. Bên cạnh đó, trên địa bàn huyện Lộc Bình (bao gồm cả các xã của huyện Yên Bác xưa: Quan Bản, Đông Quan, Lợi Bác, Sàn Viên, Xuân Dương) cũng nằm trong hệ thống lưu vực sông Kỳ Cùng. Theo Đại Nam nhất thống chí: “Sông Kỳ Cùng cách châu Lộc Bình 52 dặm về phía đông, phát nguyên từ ghềnh Trị Viện xã Đình Lập châu Tiên Yên, tỉnh Quảng Yên, chảy quanh co 23 dặm làm sông Khuất Xá…” [40, tr. Sách Đồng Khánh địa dư chí: “Ngoài ra, các khe suối khác ở hai tổng Thái Bình và Đông Quan thì đổ vào sông Kỳ Cùng thuộc châu Lộc Bình” [55, tr.
Đây là sông lớn nhất của tỉnh Lạng Sơn cũng như khu vực miền núi Đông Bắc nước 10 c Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Sông có chiều dài 243 km, diện tích lưu vực là 6.660 km2, trong đó phần nội tỉnh là 6532 km2, chiếm gần 80% diện tích tự nhiên của Lạng Sơn. Nhìn chung, mật độ sông suối của huyện khá dày, nhiều sông suối nhỏ phân bố ở nhiều xã, có tác dụng bồi đắp tạo ra những loại đất phù sa ngòi suối khá màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng. Ngoài tác dụng bồi đắp phù sa, tạo ra những cánh đồng phù sa hẹp, hệ thống sông ngòi của huyện còn là nguồn cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân địa phương.
Tuy nhiên, phần lớn là đầu nguồn nên lòng sông, suối hẹp, độ dốc lớn, lưu lượng nước hạn chế, đặc biệt về mùa khô. Mùa mưa, lượng nước mưa nhiều có thể gây ra tình trạng sạt lở, ngập úng gây thiệt hại cho hoa màu. Điều này yêu cầu công tác thủy lợi phải luôn được coi trọng. Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Lại xét Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép: thiên hạ có 29 xứ ác thủy mà Lạng Sơn chiếm 5: 1) Ôn Châu, 2) Thoát Lãng, 3) Văn Lan, 4) Thất Nguyên, 5) Yên Bác.
Đất đai của huyện khá đa dạng, phong phú với nhiều loại đất được phân bố ở cả địa hình bằng và địa hình dốc, cho phép phát triển hệ sinh thái nông – lâm nghiệp với nhiều loại cây trồng có giá trị, từ cây lương thực như lúa và rau màu trên các dải đất phù sa dọc theo các sông suối, đến việc khai thác đất dốc trồng các loại cây ăn quả và cây lấy gỗ. Toàn huyện có các nhóm đất chính: Nhóm đất phù sa (P), gồm: đất phù sa được bồi trung tính ít chua, đất phù sa được bồi chua, đất phù sa ngòi suối. Phân bố thành các dải nhỏ ven các suối trong huyện, tập trung nhiều ở An Châu, Quan Bản, Đông Quan, Sàn Viên… Nằm trên địa hình bằng phẳng (độ dốc từ 0 - 80). Đây là loại đất chủ yếu để cấy lúa, trồng cây rau màu, lương thực… Nhóm đất đỏ vàng (F), gồm: đất đỏ vàng trên đất sét và biến chất (F s), là loại đất có diện tích lớn nhất, phân bố ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện, thích hợp trồng cây ăn quả; Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq), diện tích nhỏ, nhưng khá tập trung, phân bố trên địa bàn rộng, ở các khu vực núi cao và đồi có độ dốc lớn thuộc các xã An Châu, Vĩnh Khương.