Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM HÌNH SỰ 1. Khái niệm xét xử phúc thẩm hình sự Theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp thì “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” [1, tr. Như vậy, xét xử chính là hoạt động xem xét, đánh giá nhằm tìm ra bản chất của vụ việc dựa trên quy định của pháp luật, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Tòa án. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã thể hiện rõ một nguyên tắc cơ bản và đặc biệt quan trọng thể hiện bản chất của nhà nước, bản chất của hệ thống pháp luật nước ta, đó là nguyên tắc Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.
Theo đó, tòa án nhân dân thực hiện hai cấp xét xử: xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm; bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị hợp pháp thì vụ án được xét xử lại hoặc quyết định sơ thẩm được xem xét lại tại Tòa án cấp phúc thẩm. Trong tố tụng hình sự, xét xử phúc thẩm là giai đoạn, trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Là một giai đoạn tố tụng độc lập, xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh trên cơ sở kháng cáo của những người tham gia tố tụng do pháp luật quy định hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát cùng với Tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Giai đoạn xét xử phúc thẩm có những đặc trưng riêng như: chủ thể tiến hành xét xử (gồm ba thẩm phán hoặc gồm thêm hai Hội thẩm trong trường hợp cần thiết); những người 10 được triệu tập tham gia phiên tòa là những người có kháng cáo, người bị kháng cáo, kháng nghị và những người khác được triệu tập khi cần thiết; nhiệm vụ của giai đoạn này là xét xử lại vụ án về mặt nội dung cũng như xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay. Để hiểu được về thủ tục phiên tòa phúc thẩm, chúng ta phải hiểu được bản chất pháp lý của xét xử phúc thẩm. Bản chất pháp lý của xét xử phúc thẩm được thể hiện trên những khía cạnh sau: Cơ sở phát sinh xét xử phúc thẩm: Cơ sở phát sinh xét xử phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị hợp pháp. Nếu như căn cứ để tiến hành xét xử sơ thẩm là quyết định truy tố của Viện kiểm sát, căn cứ của giám đốc thẩm và tái thẩm là kháng nghị của những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền, là những căn cứ mang tính chất quyền lực nhà nước thì trình tự phúc thẩm ngoài căn cứ phát sinh là kháng nghị của Viện kiểm sát còn được phát sinh bởi kháng cáo của bị cáo và những đương sự khác.
Như vậy, kháng cáo, kháng nghị hợp pháp là cơ sở để phát sinh xét sử phúc thẩm. Nếu không có kháng cáo, kháng nghị hợp pháp thì sẽ không phát sinh xét xử phúc thẩm. Về chủ quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm: Chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 231 và Điều 232 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 gồm: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ hoặc một phần bản án sơ thẩm; người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc người chưa thành niên có quyền kháng cáo để được bảo vệ quyền lợi và lợi ích của những người đó; người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án về hình phạt cũng như bồi thường; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại 11 diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án quyết định có liên quan đến phần bồi thường hoặc liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Ngoài những chủ thể có quyền kháng cáo như trên, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp hoặc Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm cũng có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Việc kháng cáo, kháng nghị phải được tiến hành trong thời hạn luật định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với kháng cáo thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Tòa án xử vắng mặt bị cáo hoặc đương sự tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản sao bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị với những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 7 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trong thời hạn kháng cáo, người kháng cáo có thể gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm hoặc có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm về việc kháng cáo. Nếu kháng cáo bằng miệng, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải lập biên bản về việc kháng cáo. Người kháng cáo phải nói rõ lý do và yêu cầu kháng cáo của mình.
Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, ban giám thị trại giam phải tiếp nhận và gửi ngay đơn kháng cáo của bị cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Nếu Viện kiểm sát kháng nghị thì việc kháng nghị phải bằng văn bản và phải nêu rõ lí do kháng nghị. Kháng nghị phải được gửi đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Thông qua kháng cáo, chủ thể kháng cáo có quyền nêu lên quan điểm của mình đối với bản án hoặc phần bản án quyết định của Tòa án sơ thẩm mà mình cảm thấy chưa hợp lí, đồng thời đưa ra nguyện vọng của mình đối với 12 Tòa án cấp phúc thẩm.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các đương sự trong vụ án. Đối tượng của xét xử phúc thẩm: Là vụ án mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Hoạt động xét xử của Tòa án nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét, đánh giá toàn bộ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ cũng như các chứng cứ mới đưa ra tại phiên tòa.
Việc xét xử phúc thẩm không chỉ trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị mà những phần khác ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị cũng được xem xét trong sự tổng thể của vụ án để đảm bảo một bản án phúc thẩm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thẩm quyền xét xử phúc thẩm: Theo Từ điển luật học, thẩm quyền xét xử là: “Quyền xem xét và quyết định trong hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật” [1, tr. Theo nghĩa rộng, thẩm quyền này bao gồm: quyền xem xét, quyền giải quyết vụ án, quyền ra bản án hoặc các quyết định khác. Như vậy, thẩm quyền của tòa án cấp phúc thẩm cũng bao gồm: quyền giải quyết vụ án, quyền ra bản án hoặc các quyết định khác.
Thẩm quyền của Tòa án gồm hai yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức là thẩm quyền xem xét và vi phạm xem xét (hay gọi là giới hạn xét xử) của Tòa án. Thẩm quyền về nội dung là thẩm quyền giải quyết, quyết định của Tòa án đối với những vấn đề được xem xét. Nếu như thẩm quyền xét xử xơ thẩm được quy định trực tiếp trong phần xét xử sơ thẩm, thì thẩm quyền xét xử phúc thẩm được xác định gián tiếp trên cơ sở thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Ngoài ra, thẩm quyền xét xử cũng được thể hiện ở phạm vi xem xét. Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị, trong trường hợp cần thiết có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị. 13 Xét xử phúc thẩm được tiến hành bằng việc mở phiên tòa công khai, theo nguyên tắc trực tiếp, liên tục, bằng lời nói. Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chứng cứ trong hồ sơ vụ án và những chứng cứ mới được bổ sung tại phiên tòa, để xác định sự thật khách quan của vụ án, kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm.
Trên cơ sở đó, Tòa án cấp phúc thẩm đưa ra những phán quyết của mình. Tính chất của xét xử phúc thẩm: Theo Điều 230 BLTTHS năm 2003 thì “Xét xử phúc thẩm là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị” [10, Điều 230, tr. Theo quy định của pháp luật thì sau khi có quyết định truy tố (cáo trạng), vụ án hình sự được đưa ra xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo và các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định sơ thẩm trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm khi phát hiện ra những vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án. Như vậy, hoạt động xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị hợp pháp theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.