CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY TRONG ĐÔ THỊ Chương này nghiên cứu tổng quan về hệ thống giao thông đường thủy trong các đô thị trên thế giới và trong nước, đồng thời đưa ra các cơ sở lý thuyết về thiết kế quy hoạch hệ thống giao thông đường thủy nội địa theo định hướng “Phát triển bền vững”.1 Giao thông đường thuỷ trong đô thị 1.1 Trên thế giới Dưới sức ép giao thông đô thị tại các thành phố đang ngày càng gia tăng chóng mặt. Không ít đô thị “phình ra” theo kiểu lan tỏa, thiếu quy hoạch khoa học nên hạ tầng giao thông không đáp ứng được yêu cầu phát triển. Các chuyên gia giao thông Nhật, Pháp, Mỹ, Ý, Hà Lan, Anh. cho rằng, chỉ có phát triển hệ thống giao thông công cộng mới có thể giải bài toán tắc nghẽn giao thông đô thị.
Sẽ gặp rất nhiều thách thức từ việc giải phóng mặt bằng, tìm kiếm nguồn vốn. đến giải bài toán cạnh tranh với phương tiện giao thông cá nhân. Khó nhưng vẫn có thể thực hiện được. Thực tế cho thấy thành phố Brasilia (Brazil), Hồng Kông (Trung Quốc), Seoul (Hàn Quốc), Singapore (Singapore).
đã có những thành công nhất định trong việc phát triển hệ thống giao thông công cộng. Và Thượng Hải (Trung Quốc) hiện nay cũng đang nỗ lực giải bài toán hóc búa này. Theo ông Haixiao Pan, Đại học Tongji (Trung Quốc), với 14 triệu dân, Thượng Hải đang nỗ lực giãn dân bằng các tuyến metro nối khu trung tâm với các đô thị vệ tinh. Xây dựng hệ thống giao thông công cộng với các tuyến metro, mono rail, tramway, xe buýt nhanh.
cũng như các phương tiện công cộng hạng nhẹ như mini buýt. để thay thế dần các phương tiện cá nhân. Chuyên gia Hubert Metge, Công ty Systra, Pháp cho rằng, đó là một bài toán khó, chỉ có thể giải được trong khoảng thời gian dài, hàng chục năm. Cũng đồng quan điểm, ông Satyam Sundaram, Học viện quy hoạch Ahmeddabad (Ấn Độ): Quy hoạch giao thông hiệu quả phải gắn liền với quy hoạch đô thị.
Vì vậy, khi xác định các tuyến vận tải công cộng thì phải xem xét đến mối quan hệ giữa quy hoạch dân cư và hạ tầng giao thông, đây là việc làm tốn thời 4 gian. Và khi tiến hành đầu tư, tất nhiên phải điều tra thật chi tiết nhu cầu và khả năng chấp nhận của người dân về chi phí. Một trong những tuyến vận tải công cộng được nghiên cứu trong đề tài này là giao thông công cộng đường thuỷ nội địa. Giao thông công cộng đường thủy không giống như vận tải đường sắt, việc phát triển mở rộng dịch vụ vận tải đường thuỷ có thể được đưa ra một cách nhanh chóng, với chi phí ban đầu thấp và với sự linh hoạt tuyệt vời.
Không giống như xe buýt, vận tải đường thuỷ nội địa không bị cản trở bởi tắc nghẽn giao thông trên đường và đường cao tốc hoặc trong đường hầm (xem hình 1-1). Mối quan hệ giữa các phương tiện công cộng 1.1 Ở Châu Âu [32] Giao thông vận tải đường thủy nội địa đóng một vai trò quan trọng đối với việc vận chuyển hàng hóa ở châu Âu.000km đường thủy kết nối hàng trăm thành phố và khu vực công nghiệp. Giao thông vận tải đường thủy nội địa là một thay thế cạnh tranh cho đường bộ và vận tải đường sắt, nó góp phần vào việc hạn chế việc ùn tắc của mạng lưới đường bộ quá tải tại các khu vực đông dân cư. Xe buýt nước ở Lôn Đôn_Water bus in London Hình 1-3.
Giao thông đường thủy ở thành phố Venice_Italy (Canal Traffic Simulation – City of Venice Amsterdam - Hà Lan [10] Amsterdam được gọi là “Venice phương Bắc” vì Amsterdam sở hữu hệ thống kênh dài khoảng 100km với trên 1.000 cây cầu bắc qua kênh và vài chục đảo tương tự như hình ảnh Venice quyến rũ và lãng mạn của nước Ý nằm ở miền Nam châu Âu. Hệ thống kênh và cầu ở thành phố Amterdam – Hà Lan Tàu đưa khách qua 3 con kênh, gồm Herengracht, Prinsengracht và Keizersgracht, gọi chung là Grachtengorden hay vành đai kênh. Gọi như vậy vì chúng là những con kênh đồng tâm hình cánh cung bao quanh thành phố. 3 kênh này, cùng với khu Jordaan (xây sau cùng, có một mặt giáp với Prinsengracht) được xếp vào danh sách di sản văn hóa của UNESCO.
Trong khu vực này có vài ngàn kiến trúc cổ có giá trị lịch sử, văn hóa hay gắn với một nhân vật nổi tiếng được xếp loại di tích quốc gia hay thành phố. Những tên Rembrandt, Anne Frank… khiến tăng thêm phần ngưỡng mộ của du khách đối với những kiến trúc cổ. Cảnh như một bức tranh. Các chuyên gia đánh giá di sản gọi khu vực này là một kiệt tác “hoàn toàn do con người tạo nên”.
Họ muốn nhấn mạnh tài trí và công sức không thể tính nổi của những con người chiến đấu cam go giành đất với biển và từ đất ấy họ xây dựng một thành phố thật phát triển, thật giàu có và cũng thật đẹp. Nó từng là một mô hình đô thị độc đáo của châu Âu lúc bấy giờ. Từ thế kỷ thứ 12, Amsterdam là một làng chài nhỏ nằm cuối sông Amstel, trên 7 một vùng đất thấp dưới mặt nước biển, nhiều đầm lầy, lụt lội quanh năm. Dân làng nghĩ ra cách đắp đê, xây đập thích ứng để ngăn nước.
Một cái đập (dam) xây trên một nhánh sông Amstel vừa ngăn nước vừa làm bến cho tàu dỡ hàng đã cho vùng đất này một cái tên mộc mạc: Amsterdam. Hệ thống giao thông đường thủy ở thành phố Amsterdam – Hà Lan Họ đào kênh, rất nhiều kênh lớn nhỏ, ngang dọc, để thoát nước chống ngập, dẫn nước tới chỗ cần, mở rộng giao thông và bảo vệ thành phố. Kênh còn để nới rộng thành phố, thêm đất cho việc phát triển đô thị. Nét độc đáo của các con kênh Amsterdam là có hình cánh cung, gần như song song với nhau, đồng tâm tại vịnh IJ (vịnh IJ nay gọi là hồ IJ, có cảng Amsterdam lớn thứ hai của Hà Lan nằm bên bờ).
Đất thu được từ việc đào kênh đắp lên phần giữa hai con kênh thành đất xây dựng phố xá, các công trình công cộng cần thiết cho cuộc sống đô thị. Kênh theo thiết kế đó được đào lần đầu tiên vào thế kỷ 15, chưa từng thấy ở châu Âu trước đó. Hai thế kỷ sau, vào thế kỷ 17, 3 con kênh Herengracht, Keizersgracht và Prinsengrach cũng được đào theo kiểu đó, 3 kênh đào làm ranh giới mới cho thành phố Amsterdam, nới rộng bốn lần diện tích trong vòng 50 năm, một kỷ lục châu Âu vào thời đó. Việc đào kênh và nới rộng thành phố lần này đúng vào thời hoàng kim của Hà Lan.
Thương gia Amsterdam giàu có lớn nhờ buôn bán đường biển khắp thế giới. Họ 8 có nhiều tiền, nhiều thế lực, họ cần thêm đất để khuếch trương kinh doanh và họ cũng cần ở nhà cao cửa rộng cho xứng với sự giàu có của họ. Việc đào kênh và xây cất trên vùng đất mở rộng chịu sự chi phối của giai cấp tư sản. Mạng kênh mới làm lợi nhiều cho việc nâng tầm thành phố cảng Amsterdam, giúp phát triển thương mại cực mạnh và hẳn nhiên kiến trúc nhà cửa trên vùng đất mới cũng theo phong cách tư sản.
Kiến trúc cảnh quan dọc kênh ở Amsterdam – Hà Lan Quy hoạch đô thị khu vực này được gọi là kiệt tác. Thành phố dành nhiều thời gian để nghiên cứu các kế hoạch đề xuất từ cuối thế kỷ 16. Năm 1613 đồ án xây dựng kênh được chấp thuận thì ngay sau đó thành phố thông qua dự án về cách bố trí, sắp xếp các con phố bao gồm vỉa hè, bờ kênh. Năm 1615 luật quy định rất nghiêm về kích cỡ các kiến trúc xây dọc kênh (chiều dọc, chiều ngang và chiều cao tối đa, mặt tiền phía trước và mảnh vườn riêng phía sau).
Thuế nhà tính theo mặt tiền rộng hẹp, nên nhà vùng này thường hẹp. Luật còn quy định việc bảo dưỡng cây cối, cách ăn ở, cư xử của cư dân vùng kênh vành đai. Chính quyền thành phố muốn hạn chế việc vi phạm quy định và lập ra các lô điển hình để người dân noi theo. Kế hoạch 3 kênh hoàn thành nâng tầm thành phố cảng này lên hàng lớn nhất và cũng giàu nhất châu Âu.
Nhờ những con kênh mới, Amsterdam sở hữu hệ thống giao thông đường thủy hiệu quả nhất thế giới. Hàng hóa từ khắp nơi trên thế giới có thể đến tận nhà tất cả thương gia ở bên bờ kênh. Một đoàn thuyền chèo nhỏ hàng ngàn chiếc làm công việc chuyển hàng hóa từ tàu lớn ở cảng Amsterdam tới mọi ngóc ngách của thành phố.000 nhà kho dựng cạnh bờ kênh để nhận hàng từ những chiếc thuyền 9 nhỏ đưa tới 9 chợ nổi xuất hiện đảm nhận việc cung cấp nhu yếu phẩm cho dân Amsterdam hàng ngày. Amsterdam trở thành một mẫu mực của thế giới.
Người ta bảo các nước Anh, Thụy Điển chịu ảnh hưởng của Amsterdam về xây dựng công trình công cộng và quy hoạch thành phố, Peter Đại đế của Nga tuyển thợ lành nghề, kỹ sư Amsterdam sang giúp xây dựng thành phố Petersburg, một thành phố bên cửa sông với đất đầm lầy tương tự Amsterdam. Hiện nay vẫn có nhiều nhà chuyên môn đến Amsterdam để nghiên cứu học hỏi, chẳng hạn về kiến trúc nhà cổ, về quản lý công trình công cộng. Khung cảnh về đêm dọc kênh ở Amsterdam – Hà Lan Khi con tàu sắp chấm dứt chuyến đi, tôi vội hít lấy hít để thử xem mùi kênh thế nào. Có câu chuyện kể rằng Vua Louis, cai trị Hà Lan từ 1806 đến 1811, ra lệnh lấp một con kênh sau dinh thự vì mùi hôi thối của nó làm bà vợ Constance của ông mất ngủ.
Kênh bây giờ không bốc mùi hôi thối, không thấy rác rến, được giới thiệu là sạch hơn bao giờ hết, bằng chứng là 20 giống cá và cua bơi lội tung tăng dưới kênh. Nước kênh sạch nhờ áp dụng quy trình thông nước mới thay cho cách dùng cối xay gió thời trước. Quy trình hiện nay thực hiện 3 lần/tuần gồm các bước sau: đầu tiên đóng 14 trong số 16 cửa cống quanh thành phố, kế đó bơm nước sạnh từ hồ IJ vào. Nước cuốn rác bẩn qua cửa cống mở bên phía khác của thành phố.
Cuối cùng, tàu trang bị lưới và máy xúc hốt chất bẩn mang đi. Các nhà thuyền được nối với hệ thống cống, tránh xả nước bẩn trực tiếp xuống kênh. 10 Kênh không rác, không thối là chuyện sống còn của Amsterdam. Nếu nước kênh ô nhiễm nặng thì người dân không sống nổi mà khách du lịch cũng không dám tới.