ĐẶT VẤN ĐỀ Nông sản sau thu hoạch luôn được con người lưu trữ, bảo quản cẩn thận để có thể sử dụng cho việc sản xuất, tiêu thụ và nhiều mục đích khác nhau. Nhưng việc bảo quản cũng gặp rất nhiều vấn đề, trong đó côn trùng hại kho là một trong những vấn đề lớn gây khó khăn trong công tác bảo quản nông sản sau thu hoạch, chúng làm hao hụt sản lượng nghiêm trọng, hư hỏng sản phẩm gây ảnh hưởng đến chất lượng và giá trị nông sản. Côn trùng hại kho còn có thành phần loài hết sức phong phú, tốc độ sinh trưởng nhanh và khả năng gây hại lớn. Những côn trùng gây hại mang tính tiềm ẩn, chúng xuất hiện, gây hại trong quá trình bảo quản, vận chuyển và sử dụng.
Là một trong các loại nông sản sau thu hoạch được dự trữ trong kho, thì đậu đỗ được xem là loại thực phẩm bổ dưỡng, giàu protein, được sử dụng làm nguồn thực phẩm phục vụ rất nhiều trong đời sống hàng ngày của người dân như: Đậu nành, đậu phụ, bọt đậu, bánh đậu… Bên cạnh đó đậu đỗ còn được dùng làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến. Để có thể sử dụng đậu đỗ không bị giảm hoặc mất đi giá trị dinh dưỡng, thì chúng ta cần có biện pháp ngăn ngừa và xử lý các sinh vật gây hại một cách hợp lý, đặc biệt là các loài côn trùng hại kho. Các loài côn trùng gây hại đối với đậu đỗ trong kho như: mọt đậu xanh Callosobruchus chinensis L. maculatus, mọt đậu Ancanthoscelides obtectus,… thiệt hại do chúng gây ra là rất lớn.
Trong đó mọt đậu đỏ C. maculatus là loài gây hại đáng kể, chúng gây hại trực tiếp đến sản lượng nông sản, gây ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm, gây mùi khó chịu, màu sắc không bình thường mà còn là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng khi sử dụng nông sản. Bên cạnh đó, thì việc ngăn chặn sự lây lan của sinh vật gây hại như mọt đậu đỏ C. maculatus được xem là mục tiêu của công tác kiểm dịch thực vật nhằm tránh thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe của con người.
Để thực hiện mục tiêu đó thì việc nắm rõ thông tin khoa học, điều tra thành phần, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của dịch hại có ý nghĩa rất quan trọng. 1 c Do vậy, để góp phần vào nghiên cứu những vấn đề trên và dưới sự phân công của Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam với sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Thị Thu Giang tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thành phần sâu mọt hại trên đậu đỗ nhập khẩu qua cửa Khẩu Chi Ma, Huyện Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn năm 2019. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của mọt đậu đỏ C. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu chung - Xác định được thành phần sâu mọt hại đậu đỗ và đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt đậu đỏ C. maculatus tại trạm kiểm dịch thực vật Chi Ma, Lạng Sơn từ đó đề xuất biện pháp quản lý hạn chế sự du nhập, lây lan của dịch hại quan trọng trên đậu đỗ nhập khẩu từ trung Quốc qua cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn. Mục tiêu cụ thể - Xác định thành phần sâu mọt hại đậu đỗ tại cửa khẩu Chi Ma. - Xác định đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài mọt đậu đỏ C.
maculatus - Xác định biện pháp phòng chống mọt đậu đỏ C. maculatus bằng thuốc Phosphin 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng: Mọt đậu đỏ C. maculatus gây hại trên hạt đậu đỗ.
- Phạm vi nghiên cứu: + Thành phần sâu mọt hại trên hạt đậu tại phòng kỹ thuật chi cục kiểm dịch thực vật vùng VII, phòng kỹ thuật trạm kiểm dịch thực vật Chi Ma Tỉnh Lạng Sơn. + Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của mọt đậu đỏ C. maculatus hại đậu (đậu đỏ,đậu xanh , đậu đen. Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Ý nghĩa khoa học: Bổ sung thêm một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, sinh thái của mọt đậu đỏ để góp phần trong việc quản lý sự xâm nhập gây hại theo hàng hóa đậu đỗ vào Việt Nam cũng như trong bảo quản.
- Ý nghĩa thực tiễn: + Các kết quả thu được của đề tài sẽ là cơ sở để phát hiện chính xác kịp thời loài mọt đậu đỏ gây hại trên đậu đỗ nhập khẩu qua các trạm kiểm dịch thực vật tại các cửa khẩu góp phần để phục vụ công tác kiểm dịch thực vật. Xây dựng quy trình bảo quản đậu đỗ để giữ được chất lượng trong quá trình bảo quản. + Đề xuất biện pháp quản lý phòng chống mọt đậu đỏ đạt hiệu quả. ĐÓNG GÓP MỚI Bổ sung số liệu về thành phần sâu mọt gây hại trên một số loại đậu tại trạm kiểm dịch thực vật Chi Ma, Lạng Sơn.
Bổ sung một số dẫn liệu về sinh học, sinh thái của mọt đậu đỏ. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 2. Nghiên cứu về thành phần và sự gây hại của côn trùng hại nông sản bảo quản sau thu hoạch Côn trùng hại kho gây ảnh hưởng lớn đối với sản phẩm bảo quản sau thu hoạch, chúng làm giảm phẩm chất hoặc phá huỷ vật chất, làm cho sản phẩm bảo quản bị giảm hoặc mất giá trị sử dụng.
Trong nhiều trường hợp thiệt hại do chúng gây ra là rất lớn như các sản phẩm bảo quản làm giống mất khả năng nẩy mầm. Theo FAO (2014), số loài côn trùng hại kho thuộc Bộ Cánh cứng có khoảng 25.000 loài, trong đó có nhiều loài gây hại quan trọng, có khoảng 40 họ thuộc Bộ Cánh cứng có liên quan đến sản phẩm trong kho, chúng phân bố rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới, phần lớn các loài tập trung vào 7 họ: Bostrichidae, Bruchidae, Cucujidae, Cuculionidae, Dermetidae, Silvanidae và Tenebrionidae. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về thành phần côn trùng gây hại nông sản bảo quản sau thu hoạch, có nhiều danh mục côn trùng hại kho trên thế giới đã được đề cập Theo tài liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) hàng năm trên thế giới có tới 6-10% số lương thực bảo quản trong kho bị tổn thất. Báo cáo ở 5 nước Asean chỉ ra rằng các quốc gia thành viên đã mất khoảng 25% sản lượng của họ trong quá trình thu hoạch và sau thu hoạch bao gồm lưu trữ và cận chuyển, sự mất mát này ước tính khoảng 10,5 triệu tấn lúa.
Trong báo cáo của Tổ chức Nông lương thế giới tổn thất trọng lượng gạo của Thái Lan sau thu hoạch dao động từ 8 – 14%. Các báo cáo gần đây của Viện lúa chỉ ra rằng trong 20 giống lúa khác nhau chưa xử lý được lưu trữ trong 10 tháng thì tổn thất trọng lượng dao động trong khoảng 2,06-24,30% trung bình là khoảng 4,54%. Vì vậy thiệt hại do côn trùng gây ra có liên quan đến thời gian lưu trữ (FAO, 2016). Theo CABI (2005) thành phần côn trùng gây hại trên đậu đỗ trong kho bảo quản tại châu Âu có 13 loài, trong đó họ Bruchidae có 5 loài.
Tại châu Mỹ có 18 loài côn trùng gây hại trên đậu đỗ, tại châu Phi có 19 loài trong đó có 9 loài thuộc họ Bruchidae. Thành phần côn trùng gây hại trên đậu đỗ bảo quản tại châu 4 c Á cũng phong phú như tại châu Mỹ và châu Phi: có 17 loài côn trùng gây hại trong đó cũng có 8 loài thuộc họ Bruchidae. Tại một số nước châu Phi, tổn thất đậu bảo quản do nhóm mọt đậu gây ra khoảng 9 đến 81%. Vào thời điểm thu hoạch có đến 90% các mẫu thu thập được bị nhiễm mọt đậu A.
obtectus với mật độ trung bình là 16 trưởng thành/1000 hạt, trên 1 hạt đậu bị nhiễm cao nhất là 13 sâu non. Theo Sanon & cs. (2005), cho biết đậu đũa được dự trữ sau thu hoạch bị phá hoại chủ yếu bởi các loại côn trùng thuộc họ Bruchidae, bộ Cánh cứng (Coleoptera) trong đó mọt đậu đỏ C. maculatus là loài gây hại chính.
Các cuộc tấn công của nhóm côn trùng thuộc họ Bruchidae bắt đầu trên các cánh đồng sau thời điểm thu hoạch, tỷ lệ phá hoại hạt đạt 1%-5%. Tuy tỷ lệ gây hại thấp nhưng những ấu trùng sâu non còn sót lại sẽ phát triển và gia tăng quần thể trong hạt giống được lưu trữ, gây ra tổn thất đáng kể sau một vài tháng lưu trữ. Sản lượng đậu đũa sau thu hoạch hao hụt hàng năm do côn trùng gây ra rất cao, những thiệt hại này được ước tính hàng năm ở mức 2,4% có thể lên đến từ 10%-50% trên mỗi tấn đậu đũa trong kho ở Nigeria. Theo Olajire & cs.
(2011), cho biết 5% thiệt hại về đậu đũa hằng năm ở Nigeria là do mọt đậu đỏ C. maculatus gây ra, tương đương với 100 triệu đô cho hơn 40.000 tấn đậu đũa bị gây hại. Sâu non là pha gây hại chính, trưởng thành mọt đậu đỏ không ăn hạt. Các loài mọt thuộc họ Bruchidae gây hại trên đậu đỗ cả ở giai đoạn trước và sau thu hoạch (chủ yếu ở giai đoạn sau thu hoạch).
Ở Nigeria quả đậu dải (cowpea) ở ngoài đồng có tỷ lệ nhiễm mọt thuộc họ Bruchidae từ 3,1 đến 11%tỷ lệ đậu dải bị mất mát trong quá trình bảo quản khoảng 24 nghìn tấn, chiếm khoảng 3% tổng sản lượng đậu, nếu thu hoạch muộn, tỉ lệ bị hại có thể lên tới 33%. Sau 9 tháng bảo quản, tỷ lệ hại trên hạt đậu dải lên đến 87%. Đánh giá mức độ gây hại do mọt đậu đỏ gây hại trên đậu thì 1 cá thể có thể làm hao hụt 3,5% trọng lượng, sự lây nhiễm nặng dẫn đến hao hụt đến 60% trọng lượng và ảnh hưởng đến 60% thành phần Protein trong hạt đậu (Prevet, 1961). (2005) cho rằng hầu hết các loại đậu, cả ngoài đồng và trong kho đều bị tấn công bởi các loài mọt.Trên thế giới có gần 200 loài thuộc họ Bruchidae là dịch hại của cây trồng, trong đó có 6 giống gây hại chính trên đậu trong kho là Bruchus, Bruchidius, Callosobruchus, Acanthoscelides, Zabotes và 5 c Caryedon, chúng thích nghi cao và có sự phân bố ngày càng rộng từ việc vận chuyển của con người.
Theo Schmale (2002) tại Columbia sau 16 tuần bảo quản, đậu cô ve bị mọt đậu gây mất mát từ 0,5 đến 34%, trung bình là 14%. Theo Majka & Langor (2011), khi điều tra về các loài mọt thuộc phân họ Bruchinae tại bốn tỉnh nằm bên bờ Đại Tây Dương của Canada. Phát hiện 3 loài mới được ghi nhận là: Bruchidius villosus (Fabricius), Callosobruchus chinensis (Linnaeus), và C.