Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO NGUỒN CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA 1. Khái quát về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cấp huyện ở nước ta hiện nay 1. Hệ thống chính trị Khái niệm hệ thống chính trị là một phạm trù phức tạp của khoa học chính trị, tùy thuộc vào cách tiếp cận, khuynh hướng tiếp cận, trường phái chính trị khác nhau mà có cách định nghĩa khác nhau về hệ thống chính trị. Song, dù tiếp cận ở cách nào thì hệ thống chính trị vẫn là vấn đề trung tâm, quan trọng của khoa học chính trị cần nghiên cứu.
Khi tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị, hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau như: Một là: Hiểu hệ thống chính trị như một chỉnh thể hoàn chỉnh gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phối hợp hoạt động để điều hành xã hội. Hai là: Hiểu hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm các đảng phái chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các lực lượng xã hội khác… được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và phối hợp hoạt động để điều hành xã hội. Ba là: Cách tiếp cận cho rằng hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm các đảng phái chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các lực lượng khác… (được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận hoặc không ghi nhận) và phối hợp hoạt động để điều hành xã hội. Từ những cách hiểu, cách tiếp cận trên, có thể hiểu khái niệm hệ thống chính trị như sau: Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm các thể chế 14 e chính trị (Đảng chính trị, các cơ quan quyền lực Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội… ) được xây dựng, tổ chức và hoạt động dựa trên cơ sở các chuẩn mực xã hội, các quy tắc xã hội nhất định theo những nguyên tắc, cơ chế nhất định nhằm thực thi quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền.
Phạm trù hệ thống chính trị (HTCT) ra đời trong thời kỳ hiện đại. Ở Việt Nam từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989) Đảng ta mới dùng khái niệm HTCT với nội hàm là một chỉnh thể về cấu trúc theo chiều ngang bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Về cấu trúc theo quan hệ dọc bao gồm các mối quan hệ trong hệ thống được thành lập giống nhau ở cả 4 cấp hành chính: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương), huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và xã (phường, thị trấn) [18]. Theo quan niệm này, HTCT Việt Nam gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam (đóng vai trò cầm quyền), Nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội cùng các mối quan hệ giữa chúng trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình thực hiện quyền lực của nhân dân theo định hướng XHCN.
Hệ thống chính trị cấp ủy cấp huyện Đối với hệ thống chính trị cấp quận, huyện, thị xã (gọi tắt là cấp huyện), có thể gọi đây là cấp lãnh đạo, quản lý cấp xã, phường, trị trấn (gọi tắt là cấp xã) một cách trực tiếp, toàn diện, sâu sát trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cấp huyện có trách nhiệm phải lãnh đạo, quản lý các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn huyện ngày càng phát triển theo đúng định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cấp huyện phải chịu trách nhiệm trước nhân dân huyện và cấp tỉnh về những yếu kém, khuyết điểm, tồn tại trong việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước. Cấp huyện phải cụ 15 e thể hóa các phương hướng, nhiệm vụ, chủ trương, kế hoạch của tỉnh cho sâu sát với đặc điểm, điều kiện cụ thể của huyện và phải xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể đối với các ban, ngành cấp huyện, xã để quản lý tổ chức thực hiện tốt thông qua các phong trào cách mạng quần chúng. Cấp huyện có trách nhiệm góp phần vào việc thực hiện quy hoạch tổng thể của cấp tỉnh, phối hợp chặt chẽ với cấp tỉnh trong việc thực hiện quy hoạch của tỉnh trên địa bàn huyện; cùng tỉnh giải quyết tốt mối quan hệ toàn cục trong phạm vi tỉnh đối với những mâu thuẫn, những vấn đề mới phát sinh, những mối quan hệ lợi ích giữa cấp huyện và tỉnh một cách hài hòa vì lợi ích chung.Chính quyền cấp huyện Huyện là đơn vị hành chính địa phương, chính quyền huyện là bộ phận cấu thành chính quyền địa phương, ở vị trí trên cấp cơ sở và dưới cấp tỉnh.
Về cấp hành chính địa phương, huyện là một đơn vị hành chính ở nông thôn, là cấp trung gian, cấp hành chính nhân tạo. Trong cấp hành chính này trong lịch sử có lúc có HĐND, có lúc không có HĐND chỉ có UBHC hoặc UBND; Trong lịch sử, cấp chính quyền huyện được hình thành trong điều kiện lịch sử - kinh tế - chính trị nhất định, phụ thuộc vào các yếu tố khách quan và ý chí chính trị của Đảng cầm quyền. Trong điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội chưa phát triển, còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng, điều kiện vật chất, kỹ thuật kém phát triển; trình độ, năng lực quản lý còn hạn chế, hệ thống pháp luật chưa đầy đủ và đồng bộ, trình độ dân trí thấp dẫn đến quyền làm chủ của người dân chưa được phát huy đầy đủ. và nhất khi đất nước còn chiến tranh thì việc thiết lập đơn vị hành chính cấp huyện là cần thiết, là những pháo đài quan trọng.
Nhưng cho đến nay, để đáp ứng xu thế phát triển, đây có cần thiết xem như là một cấp hành chính, cần đổi mới để đảm bảo sự tinh gọn, thông suốt của bộ máy hành chính ở nước ta. 16 e Như vậy “chính quyền huyện, là thiết chế nhà nước địa phương, một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất nhằm bảo đảm việc thực thi Hiến pháp và pháp luật, tổ chức quản lý các mặt của đời sống xã hội ở huyện theo quy định của pháp luật”. Công tác tạo nguồn cán bộ chủ chốt cho chính quyền cấp huyện 1. Cán bộ chủ chốt “Chủ chốt” là một tính từ chỉ tính chất “quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” [25, tr.
Nói đến chủ chốt là nói đến quan hệ trong một tập hợp nhất định có nhiều phần tử, nhiều đối tượng với vị trí, tính chất, vai trò của những phần tử trong tập hợp ấy có khác nhau. Để làm rõ “cán bộ chủ chốt” cần chú ý: theo Từ điển tiếng Việt, “Chủ chốt quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt, cán bộ chủ chốt của phong trào” [25, tr. Trong từng tổ chức, đều có người đứng đầu hoặc người lãnh đạo, trong một số tổ chức có tập thể lãnh đạo. Vậy, cán bộ chủ chốt là người đứng đầu quan trọng nhất, là nòng cốt của tổ chức, địa phương ấy, có tác dụng chi phối chính tới toàn bộ hoạt động của tổ chức ấy.
Ví dụ: trong tổ chức đảng, cán bộ chủ chốt của cấp ủy là bí thư, phó bí thư, ủy viên thường vụ cấp ủy; trong ủy ban nhân dân, cán bộ chủ chốt là chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân; trong cơ quan đoàn thể chính trị - xã hội thì cán bộ chủ chốt là chủ tịch, phó chủ tịch đoàn thể ấy. Cần chú ý rằng, cán bộ chủ chốt chỉ được xác định trong một mối quan hệ giữa cá nhân với một tập thể nhất định. Ví dụ: bí thư xã, thị trấn thuộc huyện là cán bộ chủ chốt của xã, thị trấn đó, đó là xét trong mối quan hệ đó với xã, thị trấn nơi giữ chức vụ bí thư. Còn trong mối quan hệ giữa bí thư xã, thị trấn với ban chấp hành đảng bộ huyện thì không phải là cán bộ chủ chốt.
Để làm rõ thêm về “cán bộ chủ chốt”, có thể nói thêm về “công chức chủ chốt”, đây có thể coi là một thuật ngữ tương đối mới vì từ trước đến nay, 17 e trong các hoạt động công quyền, người ta thường dùng chung thuật ngữ “cán bộ chủ chốt” thường bao gồm luôn đối tượng công chức chủ chốt. Tuy nhiên, khi có sự phân biệt rõ rệt giữa cán bộ và công chức thì trong đội ngũ công chức cùng công tác tại một đơn vị, sẽ có người lãnh đạo, quản lý và người thừa hành theo mệnh lệnh hành chính. Vì vậy, công chức chủ chốt ở đây có nghĩa là người quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt, chịu trách nhiệm hoặc được giao chịu trách nhiệm về hoạt động lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị đó. Ví dụ, trong văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh, công chức chủ chốt là chánh văn phòng và các phó chánh văn phòng; trong phòng Kinh tế - Hạ tầng trực thuộc ủy ban nhân dân huyện thì công chức chủ chốt là trưởng và các phó trưởng phòng.
Cũng có ý kiến cho rằng, trưởng phòng của một ủy ban nhân dân huyện thường là ủy viên ban chấp hành đảng bộ huyện, như vậy người đó đương nhiên đã là “cán bộ” và là “cán bộ chủ chốt” tại cơ quan đó (phòng thuộc ủy ban nhân dân huyện), do vậy không cần xếp vào hàng “công chức chủ chốt”. Điều này là đúng song chưa đủ, vì tại nhiều quận, huyện, cấp trưởng một phòng chưa hẳn đã được bầu vào ban chấp hành đảng bộ quận, huyện đó. Nếu cứ đối chiếu theo quy chuẩn thì người trưởng phòng đó sẽ không được xếp hạng “cán bộ chủ chốt”. Khái niệm về “nguồn” và “tạo nguồn” “Nguồn”: có từ gốc là chữ “Nguyên” có nghĩa là “nguồn nước, nguồn gốc, nguồn cội của sự việc” - “Vốn sẵn có như vậy” - “Bắt đầu, đứng đầu…”.
“Nguyên” = “Đầu - Bắt đầu - Lớn… - Nguồn nước” [1, tr. “Tạo”: “Chế làm vật phẩm - Bắt đầu - Bày đặt ra - Dựng ra lần đầu - Xây đắp [1, tr. “Tạo nguồn”, hoặc “dự nguồn” là những ngữ định danh (tương đương từ) mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Các thuật ngữ này thường được sử 18 e dụng trong phạm vi (lĩnh vực) công tác tổ chức cán bộ, quản lí hành chính công vụ.
Như vậy, khi nói “nguồn cán bộ” thì từ “nguồn” đã được chuyển nghĩa, mang nghĩa là nơi bắt đầu của công tác cán bộ. “Tạo nguồn” là bắt đầu xây dựng một đội ngũ cán bộ kế cận.