phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng tạo động lực lao động cho đội ngũ nhân viên kinh doanh tại Tổng công ty Bảo hiểm Quân đội Chƣơng 3. Giải pháp tạo động lực lao động cho đội ngũ nhân viên kinh doanh tại Tổng công ty Bảo hiểm Quân đội 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu Cùng với sự vận động phát triển của xã hội thì nhu cầu của con ngƣời ngày càng tăng lên về số lƣợng, về mức độ thỏa mãn. Khi ngƣời lao động tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn đƣợc thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi trong cuộc sống. “Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển”[2, tr 14] "Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó" [1, tr 129].
Theo cách hiểu này, nhu cầu của con ngƣời rất đa dạng. Nó đƣợc hình thành, tồn tại và phát triển trong quá trình phát triển xã hội. Có nhiều cách phân loại nhu cầu, có thể là nhu cầu có thể là nhu cầu sinh lý, nhu cầu đƣợc kính trọng, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu tự hoàn thiện, nhu cầu về giao tiếp, nhu cầu về sản xuất xã hội nhu cầu tự phủ định, nhu cầu về sự biến đổi. Nếu phân chia nhu cầu dựa theo những mong muốn nhận đƣợc, có thể phân loại nhu cầu thành nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Theo cách hiểu này, bản chất của hai khái niệm kể trên có nhiều mặt tƣơng đồng nhau. Trong luận văn này, tôi thống nhất khái niệm về nhu cầu là “trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó”. Động lực Thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động. Kreiter cho rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hƣớng cá nhân theo mục đích nhất định.
Năm 1994 Higgins đƣa ra khái niệm động 11 lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn. Theo giáo trình Quản trị Nhân lực của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó.” [2, tr 151] Theo giáo trình hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Đây cũng là khái niệm đƣợc tôi đồng nhất sử dụng trong luận văn này.
Từ những quan điểm về động lực trong lao động ở trên ta nhận thấy đƣợc động lực lao động có những bản chất sau: Những khái niệm trên đây tuy có khác nhau nhƣng đều thể hiện đƣợc bản chất của tạo động lực gồm những điểm nhƣ sau: Động lực lao động đƣợc thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi ngƣời lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Điều này có nghĩa không có động lực lao động chung cho mọi lao động. Mỗi ngƣời lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động đƣợc gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trƣờng làm việc cụ thể.
Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân, nó có thể thay đổi thƣờng xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhƣng tại một thời điểm khác động lực lao động chƣa chắc đã còn trong họ. 12 Động lực lao động mang tính tự nguyện, phụ thuộc chính vào bản thân ngƣời lao động, ngƣời lao động thƣờng chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một áp lực hay sức ép nào trong công việc. Khi đƣợc làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt đƣợc năng suất lao động tốt nhất.
Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động nhƣ một sức mạnh vô hình từ bên trong con ngƣời thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của ngƣời lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất. Tạo động lực lao động “Tạo động lực đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc.
17] Hay “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức”[5, tr. Đây cũng là khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn. Theo cách hiểu này, thực chất tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của ngƣời lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của ngƣời lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất. Để có đƣợc động lực cho ngƣời lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra đƣợc động lực đó.
Nhƣ vậy, tạo động lực trong lao động là hệ thống các chính sách, các biện pháp, các thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực để làm việc. 13 Các nhà quản trị phải luôn luôn quan tâm đến động lực, động cơ của ngƣời lao động để từ đó có thể đề ra các biện pháp thích hợp, xây dựng chính sách tạo động lực thích hợp đối với ngƣời lao động và tổ chức. Đó là quá trình tƣơng đối phức tạp và khó khăn, bởi lẽ tạo động lực bao gồm rất nhiều các hoạt động trong đó phải kể đến nhƣ xác định nhu cầu ngƣời lao động, xây dựng căn cứ và mục đích tạo động lực, hình thức tạo động lực, phƣơng pháp tạo động lực… 1. Nhân viên kinh doanh Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm cấp quản lý và cấp nhân viên.
Trong đó, nhân viên có nhiệm vụ triển khai công việc theo định hƣớng và hoàn thành mục tiêu theo từng chức năng nhiệm vụ của mỗi phòng ban. Mỗi nhân viên đảm nhận một nhiệm vụ khác nhau phù hợp với tiêu chí công việc theo đặc thù các phòng ban, lực lƣợng nhân viên đóng vai trò quyết định sự thành bại của một tổ chức hay doanh nghiệp. Chính vì vậy, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì doanh nghiệp đó cần đầu tƣ phát triểnnguồn nhân lực trong đó phát triển lực lƣợng nhân viên. Có thể hiểu “Nhân viên là ngƣời trực tiếp thực thi công việc theo mỗi nhiệm vụ khác nhau trong một doanh nghiệp, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ theo mục tiêu của các phòng ban chức năng, góp phần thực hiện chiến lƣợc đề ra cho doanh nghiệp” Trang web Thefreedictionary.com định nghĩa “nhân viên kinh doanh là những ngƣời đƣợc thuê để bán hàng hóa và dịch vụ của một cửa hàng hoặc một lãnh thổ nhất định”.
Trong khi đó, trang Collinsdictionary.com định nghĩa “nhân viên kinh doanh là ngƣời chịu trách nhiệm tăng trƣởng doanh số bán hàng của công ty”. Nhƣ vậy, chúng ta có thể hiểu nhân viên kinh doanh là những ngƣời trực tiếp đem về doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp, đây là đội ngũ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. 14 Bên cạnh đó, nhân viên kinh doanh còn đóng vai trò nhƣ một ngƣời quan hệ công chúng hiệu quả, họ giúp truyền tải đến khách hàng những thông điệp, giá trị của doanh nghiệp. Đồng thời nhân viên kinh doanh cũng là ngƣời thu nhận ý kiến phản hồi của khách hàng về chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ, mong muốn của khách hàng đối với sản phẩm.
Chính vì thế, nếu có một lực lƣợng nhân viên kinh doanh năng động, hiệu quả, ổn định sẽ giúp cho doanh nghiệp có sức cạnh tranh trên thị trƣờng. Từ những cách tiếp cận trên, tác giả rút ra khái niệm nhân viên kinh doanh: “Nhân viên kinh doanh là những người mang thông tin về sản phẩm từ doanh nghiệp truyền đạt tới khách hàng, thuyết phục khách hàng và bán sản phẩm cho khách hàng bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm giải quyết bài toán doanh số của doanh nghiệp”. Với cách hiểu này, “đội ngũ nhân viên kinh doanh là tập thể (toàn bộ) những người mang thông tin về sản phẩm từ doanh nghiệp truyền đạt tới khách hàng, thuyết phục khách hàng và bán sản phẩm cho khách hàng bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm giải quyết bài toán doanh số của doanh nghiệp”. Đội ngũ nhân viên kinh doanh là một phần của tổ chức, doanh nghiệp, vậy đội ngũ nhân viên kinh doanh có phải là nguồn lực của tổ chức, doang nghiệp không, để làm rõ vấn đề này, tác giả làm rõ hơn khái niệm về nguồn nhân lực xét trong phạm vị tổ chức, doanh nghiệp.
Đội ngũ nhân viên kinh doanh trong một tổ chức có một số đặc điểm sau: - Nhân viên kinh doanh là ngƣời tiếp xúc trực tiếp với khách hàng để giới thiệu, tƣ vấn và chào bán sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Do đó, để đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc họ phải là ngƣời nhanh nhạy, nắm bắt đƣợc vấn đề một cách nhanh chóng, có khả năng thƣơng lƣợng, thuyết phục. Bên cạnh đó, để công việc mang lại hiệu quả cao, nhân viên kinh doanh phải luôn xây dựng và duy trì mối quan hệ gần gũi với khách hàng hiện hữu để có 15 những thông tin chính xác, kịp thời về khách hàng nhằm phục vụ cho các chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp.