CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1.Một số khái niệm liên quan 1. Nhu cầu và động cơ * Nhu cầu Tất cả mọi thứ trong cuộc sống hiện nay đều xuất phát từ nhu cầu. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý tự nhiên của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau.
Tác giả đồng ý với quan điểm Philip Kotler (2009) khi cho rằng: “nhu cầu cấp thiết (needs) của con người là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà họ cảm nhận được”. Nhu cầu cấp thiết của con người rất đa dạng và phức tạp. Nó bao gồm cả những nhu cầu sinh lý cơ bản về ăn, mặc, sưởi ấm và an toàn tính mạng lẫn những nhu cầu xã hội như sự thân thiết gần gũi, uy tín và tình cảm cũng như các nhu cầu cá nhân về tri thức và tự thể hiện mình. Nhu cầu cấp thiết là những phần cấu thành nguyên thủy của bản tính con người, không phải do xã hội hay người làm marketing tạo ra.
115] Theo tác giả, có thể hiểu nhu cầu là một trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn, không thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó. Nhu cầu chưa được thoả mãn tạo ra một tâm lý căng thẳng đối với con người khiến họ tìm cách để thoả mãn nhu cầu đó và để có thể thoả mãn được những mong muốn này họ phải nỗ lực, mong muốn càng lớn mức nỗ lực càng cao. Nếu những mong muốn này được thoả mãn thì mức độ mong muốn sẽ giảm đi và ngược lại. Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng,có thể chia nhu cầu thành 2 nhóm chính như sau: + Nhu cầu về vật chất: là những nhu cầu gắn liền với những mong muốn về vật chất,thoả mãn được những nhu cầu tối thiểu để tồn tại và phát 10 triển của con người.
Cùng với sự phát triển của xã hội các nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. + Nhu cầu về tinh thần:là những nhu cầu gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý. Nhu cầu về tinh thần của con người cũng rất phong phú, nó đòi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái. Trên thực tế, cả hai yếu tố vật chất và tinh thần cùng lúc tồn tại trong bản thân mỗi người nó không phải chỉ có một yêu cầu vật chất hay tinh thần mà nó có nhiều đòi hỏi khác nhau.
Tuy nhiên tại mỗi thời điểm con ngườisẽ ưu tiên thực hiện yêu cầu mà được coi là cấp thiết nhất. * Động cơ Động cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó giải thích cho hành vi của mỗi người.Thuật ngữ động cơ dùng để chỉ các xu hướng, các ước mơ, nhu cầu nguyện vọng của con người thúc đẩy con người hành động.Theo từ điển tiếng Việt (tratu.vn): “Động cơ có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động”. Động cơ phụ thuộc vào từng người, các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau và trong các tình huống khác nhau động cơ cũng khác nhau. Có thể nói động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống.
Ngoài ra động cơ rất đa dạng, phong phú, phức tạp và luôn biến đổi, biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người thường có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau. Ví dụ: khi đói khát thì động cơ làm việc để được ăn no mặc ấm, khi có ăn có mặc thì động cơ thúc đẩy làm việc để muốn giầu có và muốn thể hiện. Động cơ làm việc của mỗi cá nhân thường trừu tượng và khó xác định, cũng có khi là vô cùng. Do vậy để nắm bắt được động cơ thúc đẩy người lao động làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể môi trường cụ thể và đối với từng cá nhân.
Các nhà quản lý cần phân tích, xác định chính xác động cơ NLĐ để từ đó có những điều chỉnh phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Động lực, động lực lao động, tạo động lực lao động *Động lực 11 Bản chất của động lực là những gì kích thích con người hành động để đạt đến mục tiêu nào đó và mục tiêu đó được đặt ra một cách có ý thức, được phản ánh bởi động cơ của NLĐ. Vậy làm thế nào để phân biệt động cơ và động lực? Chúng ta có thể coi động cơ là bộ phận quan trọng nhất trong một bộ máy giúp cho bộ máy đó chuyển động còn động lực chính là nhiên liệu giúp cho bộ phận đó (động cơ) vận hành. Nói cách khác, động cơ lao động chính là nguyên nhân, lý do để cá nhân NLĐ tham gia vào quá trình lao động còn động lực lao động là biểu hiện của sự thích thú, hưng phấn, thôi thúc họ tham gia làm việc.
Ví dụ: lý do mỗi người phải đi làm là vì hàng tháng họ cần có một khoản tiền để chi tiêu cho nhu cầu cá nhân, vậy “cần có một số tiền” chính là động cơ và “chi tiêu cho nhu cầu cá nhân” chính là động lực. Động lực thường mang tính bền vững và dài hạn, động cơ thường mang tính ngắn hạn, nhất thời. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực: Theo Maier và Lawler (1973) [24; Tr483] Động lực là sự khao khát và sự tự nguyện của mỗi cá nhân, họ đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Trong đó: Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Sự khao khát x Sự tự nguyện Theo Bedeian (1993) động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. Theo Higgins (1994) động lực là lực đẩy từ nhu cầu bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn.
Theo Nevid (2013): Thuật ngữ Động lực dùng để chỉ những yếu tố khởi tạo, định hướng và duy trì các hành vi có mục đích… Động lực thường là những câu hỏi “tại sao” một hành động diễn ra – nhu cầu hoặc mong muốn chính là cái thúc đẩy hành vi và giải thích cho hành động ta thực hiện. Theo cách hiểu của tác giả, “Động lực” là những nhân tố bên trong của cá nhân mỗi con người, là sự khát khao và tự nguyện của con người,thúc đẩy con người hoạt động một cách tích cực, có hiệu quả, có khả năng thích nghi, sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ nhằm đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể nào đó (động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động). 12 *Động lực lao động Trong bất kỳ một tập thể lao động nào cũng luôn có những NLĐ làm việc hăng say nhiệt tình, có kết quả thực hiện công việc cao kèm theo đó là những NLĐ làm việc trong trạng thái uể oải, thiếu hứng thú, thờ ơ với công việc, thậm chí bỏ việc, có kết quả thực hiện công việc thấp. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng câu trả lời cho vấn đề trên chính là động lực lao động của mỗi người.
Có nhiều quan điềm khác nhau về động lực lao động nhưng đều làm rõ được bản chất chung của động lực lao động. Theo Kreitner (1995) động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. Quá trình tâm lý ấy diễn biến dựa trên những tác động bên ngoài từ đó nảy sinh những hành vi nhất định. Theo Giáo trình Quản trị nhân lực năm 2011, “động lực lao động” được hiểu là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó.
Động lực lao động có được không xuất phát từ bất kỳ một sự cưỡng chế nào, nó không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính, nó không biểu hiện qua lời nói mà qua các hành động cụ thể, nó xuất phát từ trong nội tâm của người lao động. 144] Theo Bùi Anh Tuấn (Giáo trình Hành vi tổ chức,2009) động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân NLĐ. Dưới góc nhìn của tác giả, “Động lực lao động” xuất hiện trong quá trình lao động và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Tuy nhiên, không nên cho rằng nó là yếu tố duy nhất khiến cho năng suất và hiệu quả công việc tăng bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào nhiều lý do khác như khả năng của NLĐ, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc. Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn, thúc đẩy NLĐ nỗ lực, gắn bó lâu dài với tổ chức. 13 Động lực lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt, được chia thành ba loại yếu tố cơ bản: (1) Những yếu tố thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người thúc đẩy con người làm việc (Lợi ích của con người, mục tiêu cá nhân, thái độ của cá nhân, khả năng - năng lực của cá nhân…); (2) Các nhân tố thuộc môi trường là những nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến người lao động (Văn hoá của DN, các chính sách về nhân sự…); (3) Các yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc, là yếu tố chính ảnh hưởng đến thù lao lao động và mức tiền lương của NLĐ trong tổ chức (Ví dụ: Tính ổn định và mức độ tự chủ của công việc; Mức độ khác nhau về nhiệm vụ, trách nhiệm; Sự phức tạp của công việc; Sự hấp dẫn và thích thú…). * Tạo động lực lao động Hiện nay đã có rất nhiều chuyên gia quan tâm nghiên cứu về vấn đề “Tạo động lực lao động”.