LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Thời gian qua, cùng với sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, yêu cầu về việc đầu tƣ, quản lý cơ sở hạ tầng đảm bảo cho phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là khả năng kết nối giữa các vùng miền, các khu kinh tế trọng điểm của đất nƣớc. Trong đó, kết nối giao thông đƣờng bộ chính là một trong những huyết mạch lƣu thông của việc kết nối giao thƣơng, chính vì lẽ đó hệ thống đƣờng cao tốc đã đƣợc chính phủ đặc biệt chú trọng phát triển. Hiện nay rất nhiều tuyến đƣờng cao tốc mới đã đƣợc xây dựng và đi vào hoạt động, góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế, kết nối các vùng, khu kinh tế với nhau, rút ngắn thời gian lƣu thông, chi phí vận tải cho các doanh nghiệp, đặc biệt là những chuyển biến về kinh tế tại các tỉnh, thành phố có tuyến đƣờng cao tốc đi qua.
Tuyến đƣờng ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng bắt đầu đƣợc triển khai thi công từ năm 2007 với chủ đầu tƣ , quản lý và khai thác theo hình thức BOT là Tổng Công ty Phát triển hạ tầng và Đầu tƣ tài chính Việt Nam, với nhiệm vụ chính là kết nối tuyến giao thông huyết mạch nối liền Hà Nội, thành phố Hải Phòng và kết nối với các tỉnh lân cận nhƣ Hƣng Yên, Hải Dƣơng, Quảng Ninh… Tháng 12/2005, tuyến đƣờng ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng chính thức đƣợc thông xe toàn tuyến, tạo động lực cho việc phát triển vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía bắc. Do tuyến đƣờng đƣợc thi công và khai thác theo hình thức Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (BOT), nên việc đảm bảo đƣợc tuyến đƣờng luôn an toàn, thông suốt và tránh thất thoát là mục tiêu hàng đầu của Công ty. Vì vậy, có đƣợc ngu n nhân lực làm việc hiệu quả, trung thành, nhiệt huyết với Công 2 ty trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để đạt đƣợc mục tiêu đó, Công ty cần đảm bảo về quyền và lợi ích cho NLĐ, tạo động lực cho NLĐ làm việc, yên tâm công tác, phấn đấu, khuyến khích NLĐ phát huy năng lực, sở trƣờng trong thực hiện nhiệm vụ.
Tuy nhiên, sau quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Quản lý và Khai thác đƣờng ô tô cao tốc Hà Nội - Lào Cai, tác giả nhận thấy công tác tạo động lực cho NLĐ tại Công ty còn nhiều t n tại cần phải xem x t nhƣ: đánh giá thực hiện công việc của Công ty chƣa khoa học; tác phong làm việc chƣa thực sự chuyên nghiệp; công tác đào tạo không có kế hoạch cụ thể và chƣa hoàn toàn căn cứ vào nhu cầu đào tạo; Ban lãnh đạo chƣa thực sự chú trọng vào tạo động lực cho ngƣời lao động cả về tài chính và phi tài chính. Mặt khác, tác giả đã nghiên cứu một số các đề tài về tạo động lực cho ngƣời lao động tại các doanh nghiệp, nhƣng chƣa có đề tài nào nghiên cứu về tạo động lực cho nhân viên làm việc tại các trạm thu phí đƣờng cao tốc. Bên cạnh đó, tác giả đã tìm hiểu đặc điểm nghề nghiệp, thời gian làm việc, trình độ. của nhân viên tại các trạm thu phí đƣờng cao tốc hoàn toàn khác với các doanh nghiệp sản xuất, daonh nghiệp kinh doanh dịch vụ khác.
Chính vì lý do trên, tác giả đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Tạo động lực lao động cho nhân viên làm việc tại các trạm thu phí, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý và khai thác đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng” 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Tạo động lực có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp, khuyến khích ngƣời lao động làm việc hiệu quả, năng suất, chất lƣợng và gắn bó, xây dựng doanh nghiệp ngày càng phát triển. Cho đến nay có nhiều tác giả lựa chọn nội 3 dung tạo động lực để nghiên cứu. Tác giả đã nghiên cứu và tham khảo đƣợc một số công trình, bài báo viết về nội dung nghiên cứu này nhƣ sau: 2.
Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài. Về vấn đề tạo động lực làm việc đã đƣợc các nhà nghiên cứu ở Phƣơng Tây đi trƣớc chúng ta. Có nhiều quan điểm khác nhau về động lực và tạo động lực đƣợc đƣa ra: - Nghiên cứu của Buelens & Van den Broeck (2007) “Phân tích sự khác biệt trong động lực làm việc giữa những tổ chức ở khu vực công và khu vực tƣ”. Nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm tìm ra sự khác biệt về động lực làm việc của ngƣời lao động ở khu vực công so với khu vực tƣ nhân.
Nghiên cứu này còn chỉ ra sự khác biệt trong động lực làm việc giữa phụ nữ và nam giới, đối với phụ nữ dành nhiều thời gian hơn cho các công việc gia đình, ít thời gian cho công việc ở văn phòng. - Nghiên cứu của N.Nohria, Boris Groysberg & Linda .Lee (2008) nhằm chỉ ra một hƣớng mới nhằm mục tiêu tạo động lực cho nhân viên. Nghiên cứu tiến hành thông qua 4 yếu tố chính g m: cam kết, sự hài lòng trong công việc, mức độ tham gia công việc và ý định từ bỏ. Kết quả cho thấy các yếu tố trên có ảnh hƣởng một cách nhất định đến quá trình tạo động lực làm việc cho nhân viên.
- Nghiên cứu của Melkidezek T.Leshabari và cộng sự về động lực làm việc nhân viên y tế tại bệnh viện quốc gia Muhimbili của Tanzania (2008). Nghiên cứu này có sự tham gia của 448 nhân viên bệnh viện. Kết quả cho thấy gần một nửa bác sỹ và điều dƣỡng không hài lòng với công việc của họ. Nguyên nhân là do các yếu tố nhƣ: mức lƣơng thấp, không đủ các trang thiết bị cần thiết để khám chữa bệnh cho bệnh nhân, thiếu sự quan tâm đối với phúc lợi nhân viên y tế của bệnh viện.
4 - Nghiên cứu của Nadeem Shiraz và Majed Rashid (2011) thuộc Học viện Interdisciplinary Business Research, Pakistan với đề tài „„Những tác động của quy chế khen thƣởng và đánh giá trong động lực lao động và sự hài lòng” tập trung nghiên cứu vai trò của cơ hội thăng tiến và phong cách lãnh đạo để tạo động lực và hài lòng cho nhân viên. Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ và sự khác nhau về động lực làm việc với sự hài lòng, cụ thể hơn là sự khác nhau giữa cơ hội thăng tiến và phong cách lãnh đạo trong tạo động lực lao động. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho NLĐ ở các khu vực, thành phần kinh tế khác nhau; điều này chứng tỏ công tác tạo động lực lao động đang ngày càng đƣợc nhiều tổ chức quan tâm, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nhƣ: - Cuốn sách “Quản lý công” (2015), của đ ng tác giả Trần Anh Tuấn và Nguyễn Hữu Hải, Nxb Chính trị quốc gia, đã hệ thống các khái niệm về động lực làm việc, vai trò của tạo động lực làm việc và phân loại động lực làm việc trong khu vực công; các học thuyết, lý thuyết tiêu biểu về tạo động lực và một số kỹ thuật tạo động lực làm việc. - Sách “Chiến lược cạnh tranh thời đại mới” của Tạ Ngọc Ái, Nxb Thanh niên (2009) đã nêu ra một số chiến lƣợc giúp doanh nghiệp t n tại và đối phó với đối thủ cạnh tranh trong môi trƣờng kinh doanh ngày càng khốc liệt.
Một trong những chiến lƣợc đó có đề cập đến việc tạo động lực lao động cho ngƣời lao động để họ gắn bó với doanh nghiệp và hăng say làm việc đạt hiệu quả cao. - Vũ Thu Uyên (2008), Trƣờng đại học Kinh tế quốc dân, luận án tiến sĩ 5 “Giải pháp tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội và ở Việt Nam đến năm 2020” của Luận án đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về vai trò lao động quản lý trong các doanh nghiệp. Đề xuất những giải pháp nhằm tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nƣớc ở Hà Nội đến năm 2020. Tác giả đã đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách tạo động lực lao động cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nƣớc ở Hà Nội và Việt Nam đến năm 2020.
Các giải pháp đƣợc đƣa ra cuối luận án tập trung vào vấn đề tạo động lực và xây dựng chính sách tạo động lực phù hợp với lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nƣớc ở Hà Nội và Việt Nam đến năm 2020. Tuy nhiên, tác giả cũng chƣa đánh giá đƣợc đƣợc các nhu cầu của ngƣời lao động và mức độ quan trọng của các nhu cầu để từ đó có các biện pháp tạo động lực phù hợp trên cơ sở thỏa mãn những nhu cầu hợp lý của ngƣời lao động. - Báo Lao động đăng ngày 14/10/2015, về buổi tọa đàm do Báo Lao động tổ chức tại Hà Nội, chủ đề: “Tạo động lực lao động để tăng năng suất lao động”.Bài báo đề cập ý kiến của các chuyên gia về vấn đề tạo động lực cho ngƣời lao động để tăng năng suất lao động đó là: Sự chia sẻ lợi ích với ngƣời lao động, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì phải thƣờng xuyên đầu tƣ đổi mới công nghệ, quan tâm đến đời sống của ngƣời lao động, bên cạnh đó là việc cải thiện môi trƣờng pháp lý, tăng lƣơng, tái tạo sức lao động, áp dụng khoa học kỹ thuật, đào tạo kỹ thuật cho ngƣời lao động… để ngƣời lao động có động lực làm việc. Qua tìm hiểu các học thuyết, bài viết và nghiên cứu trên, có thể thấy các tác giả về cơ bản đã đề cập đến các yếu tố tạo động lực cơ bản nhƣ: các nhu cầu cơ bản của con ngƣời, yếu tố cá nhân, môi trƣờng làm việc, mong muốn đƣợc thể hiện bản thân, …Từ những tìm hiểu đó, tôi thấy tạo động lực cho 6 ngƣời lao động làm việc tại các trạm thu phí, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý và khai thác đƣờng ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng còn chƣa đƣợc hoàn thiện, vẫn chƣa kích thích đƣợc ngƣời lao động làm việc hết khả năng.